Chương 2 (Tham khảo)

Chương 2:

 

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

 

2.1.) Khái niệm dự án đầu tư

2.1.1.) Tuỳ theo tính chất dự án và quy mô đầu tư

2.1.2.) Theo trình tự duyệt và lập dự án

2.2.) phân loại dự án đầu tư:

2.2.1.)tuỳ theo tính chất dự án và qui mô đầu tư

2.2.2,)theo trình tự duyệt và lập dự án

2.3.) Vấn đề quản lý dự án đầu tư

2.3.1.) Quản lý dự án

2.3.2.) Bản chất của quản lý dự án

2.3.3.) Tính khả thi của một dự án

2.3.4.) Một số phương pháp quản lý dự án xây dựng

2.3.5.) Thẩm định & đánh giá dự án đầu tư

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG 2

 

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

 

2.1.) KHÁI NIỆM DỰ ÁN ĐẦU TƯ:

Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự  tăng trưởng về mặt số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoản thời gian xác định.

2.2.) PHÂN LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ:

2.2.1.)TUỲ THEO TÍNH CHẤT DỰ ÁN VÀ QUI MÔ ĐẦU TƯ, dự án đầu tư trong nước phân thành ba nhóm: A, B, C để phân cấp quản lý. Đặc trưng của mỗi nhóm được quy định trong bản

Đối với các dự án nhóm A gồm nhiều dự án thành phần (tiểu dự án) trong đó nếu từng dự án thành phần có thể độc lập vận hành, khai thác và thực hiện theo phân kỳ đầu tư được ghi trong văn bản phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của người có thẩm quyền thì mỗi dự án thành phần được thực hiện giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư như trình tự một dự án đầu tư độc lập,.

Phân loại dự án đầu tư của Quy chế Quản lí đầu tư và xây dựng được ban hành kèm theo Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05-5-2000 của Chính phủ về sửa đổi bổ xung Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08-7-1999

2.2.2,)THEO TRÌNH TỰ DUYỆT VÀ LẬP DỰ ÁN:

+Dự án tiền khả thi: hồ sơ trình duyệt ở bước này gọi là báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.

+Dự án khả thi: hồ sơ trình duyệt ở bước này gọi là báo cáo nghiên cứu khả thi.

Đối với các dự án thuộc nhóm A, các dự án sử dụng nguồn vốn hổ trợ phát triển chính thức ODA cần phải lập theo hai bước: nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi. Đối với một số dự án thuộc nhóm B, nêu xét thấy cần thiết có thể tiến hành lập theo hai bước (do người có thẩm quyền ra quyết định đầu tư thực hiện ).

Đối với các dự án còn lại chỉ lập theo một bước là nghiên cứu khả thi.

 

 

 

STT

LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ

TỔNG MỨC VỐN ĐẦU TƯ

1

2

 

3

4

 

5

6

 

1

2

 

3

 

4

1

 

 

2

 

3

 

4

I. NHÓM A

 

Các dự án thuộc phạm vi bảo vệ an ninh quốc phòng có tính bảo mật quốc gia, có ý nghĩa chính trị – xã hội quan trọng, thành lập và xây dựng hạ tầng khu công nghiệp mới.

 

Các dự án sản xuất chất độc hại chất nổ không phụ thuộc vào qui mô vốn đầu tư.

 

Các dự án: công nghiệp điện, khai thác dầu khí , chế biến dầu khí, hoá chất phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tàu lắp ráp ôtô), xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng sản, các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ.

 

Các dư án : thuỷ lợi, giao thông (khác ở điểm I-3), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu , bưu chính viễn thông, BOT trong nước, xây dựng khu nhà ơ, giao thông nội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt.

 

Các dư án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị nới, các dự án: công nghiệp nhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh, in; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên , mua sắm thiết bị xây dựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản

 

 

Các dự án: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh,truyền hình xây dựng dân dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và dự án khác.

 

II. NHÓM B

 

Các dự án: công nghiệp điện, khai thác dầu khí , chế biến dầu khí, hoá chất phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tàu lắp ráp ôtô), xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng sản, các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ.

 

Các dự án : thuỷ lợi, giao thông (khác ở điểm I-3), cấp thoát nức và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu , bưu chính viễn thông, BOT trong nước, xây dựng khu nhà ơ, giao thông nội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt.

 

Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị nới, các dự án: công nghiệp nhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh, in; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên , mau sắm thiết bị xây dựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản

 

Các dự án: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình xây dựng dân dụng, kho tàng, du lich thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và dự án khác.

III. NHÓM C

 

Các dự án: công nghiệp điện, khai thác dầu khí , chế biến dầu khí, hoá chất phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tàu lắp ráp ôtô), xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng sản, các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ. Các trường phổ thông nằm trong quy hoạch  ( không kể mức vốn đầu tư)

 

Các dự án : thuỷ lợi, giao thông (khác ở điểm I-3), cấp thoát nức và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu , bưu chính viễn thông, BOT trong nước, xây dựng khu nhà ơ, giao thông nội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt.

 

 

Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị nới, các dự án: công nghiệp nhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, mua sắm thiết bị xây dựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản

 

Các dự án: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình xây dựng dân dụng, kho tàng, du lich thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và dự án khác.

 

 

 

 

Không kể mức vốn

 

 

Không kể mức vốn

 

 

Trên 600 tỷ đồng

 

 

 

 

Trên 400 tỷ đồng

 

 

 

 

 

Trên 300 tỷ đồng

 

 

 

Trên 200 tỷ đồng

 

 

 

 

Từ 30 đến 600 tỷ đồng

 

 

 

 

 

Từ 20 đến 400 tỷ đồng

 

 

 

 

Từ 15 đến 300

tỷ đồng

 

 

 

Từ 7 đến 200

tỷ đồng

 

 

 

 

Dưới 30 tỷ đồng

 

 

 

 

Dưới 20 tỷ đồng

 

 

 

 

 

 

Dưới 15 tỷ đồng

 

 

 

Dưới 7 tỷ đồng

   Ghi chú:

  1. Các dự án nhóm A về đường sắt, đường bộ phải được phân đoạn theo chiều dài đường, cấp đường, cầu, theo hướng dẫn của bộ giao thông vận tải sau khi thống nhất với bộ kế hoạch và đầu tư.
  2. Các dự án xây dựng trụ sở, nhà làm việc của cơ quan nhà nước phải thực hiện theo quyết định của thủ tướng chính phủ.

 

2.3.) VẤN  ĐE  QUẢN  LÍ  DỰ  ÁN  ĐẦU  TƯ

Ta biết rằng ngành xây dựng cung cấp cho xã hội những nhu cầu cơ bản như: nhà ở, nước uống, đường xá, trường học, bệnh viện… nên việc tạo ra những sản phẩm xây dựng đó có một hiệu quả thị trường không chỉ về mặt kinh tế mà cả về mặt xã hội. Đối với những nước đang phát triển như nước ta thì điều này lại càng có ý nghĩa đặc biệt. Chính vì lẽ đó mà việc quản lý có hiệu quả các dự án xây dựng là vô cùng quan trọng nhằm tránh gây lãng phí những nguồn lực vốn đã rất hạn hẹp.

2.3.1). QUẢN LÝ DỰ ÁN:

Để trả lời câu hỏi này, các nhà quản trị đã đưa ra nhiều định nghĩa về quản lý dự án:

° Quản lý dự án là việc điều phối và tổ chức các bên khác nhau tham gia vào một dự án nhằm hoàn thành dự án đó theo những hạn chế được áp đặt bởi:

 

 

 

 

 

 

 

° Quản lý dự án là việc lập kế hoạch tổng thể, điều phối và kiểm soát một dự án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, nhằm đảm bảo sự hoàn thành đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách và các yêu cầu kỹ thuật đã được xác định trước cũng như cách thức và chất lượng thực hiện.

2.3.2.) BẢN CHẤT CỦA QUẢN LÝ DỰ ÁN:

Quản lý một dự án xây dựng rất khác quản lý một tổ chức có trạng thái ổn định.

Ví dụ:

Một trường đại học, một nhà máy hay một bệnh viện chẳng hạn. Mặc dù số lượng sinh viên và cán bộ công nhân viên trong trường mỗi năm mỗi khác nhưng sự thay đổi đó là không đáng kể và người quản lý có thể chủ động điều chỉnh, kiểm soát được. Trong sản xuất cũng vậy, nề nếp sản xuất của một nhà máy cũng không thay đổi nhanh từng tháng, từng năm dù cho các mô hình mới, thiết bị mới đã lần lượt thay thế những cái cũ. Hay trong một bệnh viện, quy trình điều trị bệnh nhân biến đổi rất chậm qua thời gian. Mặc dù có những tiến bộ trong khoa học, y tế, nhìn chung công tác điều hành bệnh viện luôn theo một nề nếp cũ, ít thay đổi.

Trong khi đó quản lý dự án là quản lý sự thay đổi của dự án. Sự thay đổi đó diễn ra từng ngày từng giờ, xảy ra một lần duy nhất không được xác định rõ ràng và bất thường. Đó chính là bản chất đặc trưng của quản lý dự án xây dựng.

Như vậy, có thể nói rằng việc quản lý dự án phức tạp hơn nhiều so với việc quản lý một công ty sản xuất. Vấn đề ở đây là làm thế nào để quản lý được các dự án xây dựng một cách có hiệu quả nhất?

2.3.3.)  TÍNH KHẢ THI CỦA MỘT DỰ ÁN 

            Trong phần lập dự án người lập dự án cũng như người thẩm định dự án đều phải quan tâm trước hết tính khả thi của dự án. Mỗi dự án đầu tư được gọi là khả thi nếu hội đủ các tính chất sau:

2.3.3. 1,)  Hợp pháp:

                  Hợp pháp là phù hợp với luật pháp bao gồm cả các văn bản, các quy định dưới luật có đủ các căn cứ pháp ly, tư cách pháp nhân của các đối tác, giấy phép hành nghề, khả năng tài chính, sở trường kinh doanh, các thông tin khác liên quan đến các đối tác, các hợp đồng liên quan, các văn bản xác nhận quy hoạch, đất đai định giá tài sản góp vốn, giá cả áp dụng.

 2.3.3. 2.)  Hợp lý:

– Phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của các ngành kinh tế, vùng kinh tế cũng như địa phương.

– Các số liệu dữ liệu phải có đủ căn cứ, nguồn cung cấp phải có đủ tư cách pháp nhân. Không được sử dụng các dữ liệu không rõ xuất xứ, hoặc xuất xứ không đảm bảo về mặt pháp lý.

– Các phương pháp tính toán phải có đủ cơ sở khoa học

– Các phương pháp lựa chọn phải phù hợp với các điều kiện cụ thể của dự án, phù hợp với đặc niệm, thể trạng của người Việt Nam, phù hợp với truyền thống tập quán của cư dân.

– Nội dung, hình thức trình bày phải phù hợp với các qui định, hướng dẫn, chỉ dẫn các cơ quan có trách nhiệm.

2.3.3. 3.)  Có thể thực hiện được :

                 Mọi phương án, giải pháp được lựa chọn phải phù hợp với thực tế, có tính hiện thực, có khả năng thực hiện được trong điều kiện cụ thể của nước ta của từng địa phương. Tránh tình trạng sau khi được xét duyệt lại không được thực hiện, phải cắt giảm qui mô, kéo dài thời gian đòi tăng vốn… vì các giải pháp nêu ra trong dự án chưa được cân nhắc kỹ lưỡng hoặc quá ảo tưởng.

2.3.3. 4.)  Khả năng mang lại hiểu quả rỏ rệt:

Trong dự cần để một phần quan trọng để chứng minh hiệu quả của dự án về mặt tài chính cũng như về mặt kinh tế xã hội, thể hiện bằng các chỉ tiêu cụ thể.

Phương pháp xác định các chỉ tiêu này phải đúng học thuật. Tránh tình trạng cố tình phóng đại các chỉ tiêu hiệu quả, làm cho dự án mất tính trung thực. Ngoài ra cần xem xét các chỉ tiêu an toàn về đầu tư khả năng trả nợ, phân tích độ nhạy của dự án.

Như vậy để có một dự án được tính khả thi, cần có một quá trình nghiên cứu tỉ mỉ, cẩn thận. Do đó đối với các dự án lớn, phức tạp, những dự án có yêu cầu đặc biệt ta phải tiến hành theo hai bước: nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi. Còn đối với các dự án tương đối đơn giản ta chỉ cần tiến hành một bước là nghiên cứu khả thi mà không cần lập nghiên cứu tiền khả thi.

2.3.4.) MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DƯNG:

2.3.4.1.)  Phương pháp quản lý dự án xây dựng trên thế giới:

°Phương pháp quy ước:

Phương pháp này được áp dụng phổ biến nhất.

Chủ đầu tư thuê một đơn vị tư vấn chịu trách nhiệm lập dự án, thiết kế và soạn thảo các văn bản đấu thầu, giúp cho chủ đầu tư tổ chức việc đấu thầu và giám sát công trình thi công xây lắp của nhà thầu.

°Phương pháp quản lý theo dự án:

Chủ đầu tư thuê một đơn vị tư vấn thay mình đứng ra giao dịch với các đơn vị thiết kế, cung ứng vật tư và đơn vị nhận thầu thi công.

Đơn vị tư vấn chịu trách nhiệm giám sát mọi mặt nhưng không phải là người tổng thầu xây dựng.

°Phương pháp chìa khoá trao tay:

Chủ đầu tư chỉ quan hệ với một đơn vị tổng thầu chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình lập dự án, thiết kế đến thi công xây lắp hoàn chỉnh để giao cho chủ đầu tư vận hành sử dụng.

°Phương pháp tự quản:

Sử dụng lực lượng nội bộ trong đơn vị của chủ đầu tư tiến hành mọi việc liên quan đến xây dựng công trình từ việc lập dự án, thiết kế đến thi công rồi đưa vào sử dụng.

Người ta thường sử dụng phương pháp này chủ yếu trong lĩnh vực chuyên ngành đặc biệt: dầu khí, năng lượng, nguyên tử…

2.3.4.2.) Phương pháp quản lý dự án xây dựng ở Việt Nam:

°Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án:

Chủ đầu tư tổ chức tuyển chọn và trực tiếp ký hợp đồng với một hoặc nhiều tổ chức tư vấn để thực hiện công tác khảo sát, thiết kế công trình, soạn thảo hồ sơ mời thầu, tổ chức đấu thầu hoặc chỉ định thầu.

Sau khi chủ đầu tư ký hợp đồng với nhà thầu xây lắp, nhiệm vụ giám sát, quản lý quá trình thi công đảm bảo tiến độ chất lượng công trình vẫn do tổ chức tư vấn đã lựa chọn đảm nhận.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

°Chủ nhiệm điều hành dự án:

Chủ đầu tư tổ chức tuyển chọn và trình cấp có thẩm quyền quyết định tổ chức tư vấn thay mình làm chủ nhiệm điều hành dự án chịu trách nhiệm giao dịch, ký kết hợp đồng với các tổ chức khảo sát, thiết kế, cung ứng vật tư, trang thiết bị xây lắp để thực hiện các nhiệm vụ của quá trình thực hiện dự án. Đồng thời chịu trách nhiệm giám sát toàn bộ quá trình thực hiện dự án.

Hình thức chủ nhiệm điều hành dự án chỉ áp dụng đối với các dự án có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp và thời gian xây dựng dài.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

°Chìa khoá trao tay:

Chủ đầu tổ chức đấu thầu dự án để lựa chọn một nhà thầu (tổng thầu xây dựng) thực hiện dự án (thiết kế, mua sắm vật tư, trang thiết bị xây lắp…)

Chủ đầu tư chỉ trình duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, nghiệm thu và nhận bàn giao khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng. Tổng thầu xây dựng có thể giao thầu lại việc khảo sát, thiết kế, mua sắm trang thiết bị hoặc một phần khối lượng công tác xây lắp cho các nhà thầu phụ.

Hình thức này được áp dụng cho các công trình nhà ở, công trình dân dụng và công trình sản xuất kinh doanh có quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

°Tự làm:

Chủ đầu tư sử dụng lực lượng được phép hành nghề xây dựng của mình để thực hiện toàn bộ khối lượng công việc.

Hình thức này chỉ áp dụng đối với các công trình sửa chữa, cải tạo quy mô nhỏ, công trình chuyên ngành đặc biệt (xây dựng nông lâm nghiệp và các công trình tự đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp xây dựng).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tùy từng dự án đầu tư cụ thể mà chủ đầu tư sẽ lựa chọn một hình thức quản lý thích hợp. Nhưng dù với hình thức nào thì mục tiêu của việc quản lý dự án vẫn là:

–     Hoàn thành dự án trong giới hạn giá thành quy định.

–     Hoàn thành dự án trong thời gian quy định.

–     Xây dựng đạt tiêu chuẩn chất lượng quy định.

–     Bảo đảm sức khoẻ và an toàn cho người tham gia.

Muốn vậy đòi hỏi phải có những quy định cụ thể xác định rõ vai trò và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân tham gia vào dự án đầu tư.

Tuy nhiên, một điều cần nói thêm là bản thân những quy định, những thủ tục tự nó không thể quản lý được. Ta biết rằng dự án được quản lý bởi con người mà con người được coi là chủ thể sáng tạo ra quyết định và bằng những thủ tục, quy định lại tác động vào con người khác để cùng nhau hành động vì mục đích hoàn thành dự án theo đúng yêu cầu đặt ra.

Đồng thời, quản lý dự án còn được xem như một lĩnh vực nghệ thuật vì tính phong phú, mềm mại và linh hoạt của nó. Quản lý dự án xây dựng phải luôn đổi mới và sáng tạo, hoàn thiện không ngừng trên cơ sở những nguyên lý được đúc kết bởi thực tiễn và lý luận. Quản lý dự án xây dựng không có chổ cho bất kỳ một sự áp đặt thô thiển nào, và ngược lại thì không còn là quản lý dự án nữa.

2.3.5.) THẨM ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

           Quá trình thẩm định dự án đầu tư được quy định trong Nghị định số 52/1999/NĐ – CP ngày 08 -7 – 1999 của Chính phủ Về việc ban hành Quy chế quản lí đầu tư và xây dựng.

° Thẩm định dự án đầu tư

1. Những dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn do doanh nghiệp Nhà nước đầu tư phải được thẩm định. Việc thẩm định dự án đầu tư phải do cơ quan chức năng của Nhà nước có thẩm quyền và tổ chức tín dụng nhà nước thực hiện( đối với các dự án sử dụng vốn tín dụng).

Chủ đầu tư có trách nhiệm trình báo cáo nghiên cứu khả thi tới người có thẩm quyền quyết định đầu tư và đồng gửi đến cơ quan có chức năng thẩm định theo quy định.

2. Đối với báo cáo nghiên cứu tiền khả thi các dự án nhóm A, chủ đầu tư trực tiếp trình Thủ Tướng Chính Phủ và đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Bộ quản lí ngành để xem xét báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Khi có văn bản Thủ tướng Chính phủ chấp thuận mới tiến hành lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc tiếp tục thăm dò, đàm phán kí thỏa thuận giữa các đối tác tham gia đầu tư trước khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua và quyết định chủ trương đầu tư. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội.

3. Các dự án được lập báo cáo đầu tư thì không phải thẩm định. Chủ đầu tư có trách nhiệm trình người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét báo cáo đầu tư để quyết định đầu tư.

4. Đối với các dự án khu đô thị mới( hoặc dự án thành phần ) nếu phù hợp với quy hoạch chi tiết và dự án phát triển kết cấu hạ tầng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì chỉ thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi.

5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn hồ sơ thẩm định dự án đầu tư.

6. Thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư.

a. Đối với các dự án nhóm A.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chủ trì thẩm định có trách nhiệm lấy ý kiến của Bộ quản lí ngành, các Bộ, địa phương có liên quan. Tùy theo từng yêu cầu cụ thể đối với từng dự án, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có thể mời các tổ chức hoặc chuyên gia tư vấn thuộc các Bộ khác có liên quan để tham gia thẩm định dự án.

Đối với các dư án được sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, tổ chức cho vay vốn thẩm định phương án tài chính và phương án trả nợ trước khi trình người có thẩm quyền quyết định đầu tư.

b. Đối với cá dự án nhốm B, C, sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng phát triển của Nhà nước.

– Người có thẩm quyền quyết định đầu tư sử dụng cơ quan chuyên môn trực thuộc đủ năng lực tổ chức thẩm định, có thể mời cơ quan chuyên môn của các Bộ, ngành khác có liên quan để thẩm định dự án.

– Các dự án thuộc cấp Tỉnh quản lí, Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối tổ chức thẩm định dự án có trách nhiệm lấy ý kiến các cơ quan có liên quan.

– Tổ chức cho vay vốn thẩm định phương án tài chính và phương án trả nợ và chấp thuận cho vay trước khi trình người có thẩm quyền quyết định đầu tư.

° Nội dung thẩm định dự án đầu tư.

               1. Các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước phải được thẩm định về:

a) Sự phù hợp với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị nông thôn.

b) Chế độ khai thác và sử dụng tài nguyên quốc gia ( nếu có).

c) Các ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước mà dự án đầu tư có thể được hưởng theo quy chế chung.

d) Phương án công nghệ và quy mô sản xuất, công suất sử dụng.

e) Sử dụng đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, kế hoạch tái định cư( nếu có ).

g) Phòng, chống cháy nổ, an toàn lao động và các vấn đề xã hội của dự án.

h) Các vấn đề rủi ro của dự án có thể xảy ra trong quá trình thực hiện làm ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư.

i) Đánh giá tổng thể và tính khả thi của dự án.

2. Các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh còn phải thẩm định các điều kiện tài chính, giá cả, hiệu quả đầu tư và phương án hoàn trả vốn đầu tư của dự án.

° Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư.

              Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ để thẩm định các dự án đầu tư.

Tùy theo quy mô tính chất và sự cần thiết của từng dự án, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư thẩm định hoặc thẩm định lại trước khi quyết định đầu tư.

° Thời hạn thẩm định các dự án đầu tư kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

             1. Các dự án đầu tư thuộc nhóm A : thời hạn thẩm định không quá 60 ngày.

2. Các dự án đầu tư thuộc nhóm B : thời hạn thẩm định không quá 30 ngày.

3. Các dự án đầu tư thuộc nhóm C : thời hạn thẩm định không quá 20 ngày.

° Kinh phí lập dự án, thẩm định dự án đầu tư.

             1. Dự án đầu tư thuộc nguồn vốn nào thì kinh phí cho việc lập dự án, lệ phí thẩm định dự án được tính trong nguồn vốn đó. Đối với các dự án chưa xác định được nguồn vốn đầu tư bao gồm cả dự án sẽ được hỗ trợ tín dụng đầu tư của Nhà nước thì chủ đầu tư sử dụng nguồn vốn hợp pháp của mình hoặc vay vốn ngân hàng để thực hiện và sau khi xác định được nguồn vốn chính thức sẽ hoàn trả.

2. Kinh phí cho công tác tư vấn lập dự án, lệ phí thẩm định dự án, chi phí thuê chuyên gia thẩm định dự án được xác định trong nguồn vốn đầu tư của dự án. Bộ Xây dựng thống nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết chi phí thuê chuyên gia thẩm định. Bộ Tài chính thống nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Xây dựng ban hành lệ phí thẩm định dự án đầu tư.

3. Sau khi thẩm định dự án, nếu dự án không được thực hiện thì chi phí cho công tác lập và thẩm định dự án được trích từ nguồn vốn của doanh nghiệp hoặc phải trích từ kinh phí sự nghiệp thuộc các cơ quan hành chính sự nghiệp hoặc trích từ vốn ngân sách Nhà nước đã bố trí cho dự án trong kế hoạch để thanh toán.

 

 

Advertisements

About Nhà kinh tế

Ths Kinh tế Nghiên cứu kinh tế
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s