Không sốt, vàng vẫn loạn giá

Dù dự thảo nghị định quản lý kinh doanh vàng miếng mới được Ngân hàng Nhà nước trình Chính phủ nhưng thị trường vàng đã xuất hiện nhiều bất ổn.

Ngày 21-11, giá vàng trong nước biến động trong biên độ hẹp dưới mốc 46 triệu đồng/lượng. Lúc 15 giờ, Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng mua vào 45,65 triệu đồng/lượng, bán ra 45,85 triệu đồng/lượng. Cùng lúc, Công ty Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ) niêm yết giá vàng miếng Phượng Hoàng PNJ-DAB mua vào 45,65 triệu đồng/lượng, bán ra 45,78 triệu đồng/lượng, thấp hơn SJC 70.000 đồng/lượng.

“Khóc ròng” vì bán vàng giá thấp

Trong khi đó, giá vàng Rồng Thăng Long 999,9 của Công ty Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Minh Châu (Hà Nội) niêm yết mua vào chỉ 44,7 triệu đồng/lượng, bán ra 44,93 triệu đồng/lượng. Vàng miếng AAA của Tổng Công ty Vàng Agribank Việt Nam (AJC) mua vào cũng chỉ 44,7 triệu đồng/lượng, bán ra 45,1 triệu đồng/lượng. Như vậy, giá vàng miếng của Bảo Tín Minh Châu và AJC thấp hơn SJC gần 1 triệu đồng/lượng.

Lần đầu tiên trên thị trường, tình trạng… loạn giá vàng miếng xuất hiện, dù các “cơn sốt” giá vàng không xảy ra. Đáng nói, mức chênh lệch giá vàng miếng giữa các thương hiệu xuất hiện sau khi có dự thảo về nghị định quản lý kinh doanh vàng miếng của Ngân hàng (NH) Nhà nước.

Thực tế, vàng Rồng Thăng Long của Bảo Tín Minh Châu đã được rao bán “đại hạ giá” so với các thương hiệu khác khoảng 2 tuần nay (ban đầu giá chỉ thấp hơn vàng SJC khoảng 200.000 đồng – 300.000 đồng/lượng). Lý giải điều này, ông Vũ Minh Châu, Tổng Giám đốc Bảo Tín Minh Châu, cho biết ngay sau khi có dự thảo nghị định quản lý vàng của NH Nhà nước, người dân lo sợ chỉ có vàng miếng SJC được lưu hành nên bắt đầu bán vàng. Những ngày sau đó, người dân ồ ạt đến Bảo Tín Minh Châu bán vàng Rồng Thăng Long khiến doanh nghiệp (DN) không có đủ tiền mặt để trả và phải hạ giá vàng miếng để kiềm chế lực bán của người dân.

Hậu quả của việc Bảo Tín Minh Châu và AJC mua vào thấp hơn gần cả 1 triệu đồng/lượng khiến nhiều người phải “khóc ròng” khi trót mua vàng giá cao trước đó. Rồng Thăng Long cũng như AAA là thương hiệu vàng miếng lâu năm (vàng Rồng Thăng Long đã có mặt hơn 20 năm) nhưng nay lại bị người dân ồ ạt bán tháo…

Không sốt, vàng vẫn loạn giá, Tài chính - Bất động sản, gia vang, vang mieng, gia vang hom nay, gia usd, tai chinh, bao

Khách hàng mua bán vàng miếng tại một công ty kinh doanh vàng ở TPHCM.

Lo ngại độc quyền

Nói về dự thảo nghị định quản lý kinh doanh vàng miếng vừa trình Chính phủ, các DN kinh doanh vàng tỏ ra không đồng tình khi NH Nhà nước quy định muốn sản xuất vàng miếng, DN phải có vốn điều lệ hơn 500 tỉ đồng, chiếm thị phần từ 25% trở lên trong 3 năm liên tiếp vừa qua. Trong 8 đơn vị đang được cấp phép sản xuất kinh doanh vàng miếng, chỉ có SJC đáp ứng được tiêu chí này bởi chiếm hơn 90% thị phần. “Vốn điều lệ 500 tỉ đồng, PNJ dư sức nhưng “kẹt” nhất là phải chiếm thị phần từ 25% trở lên” – bà Nguyễn Thị Cúc, Phó Tổng Giám đốc PNJ, băn khoăn.

Một chủ DN kinh doanh vàng cho rằng hiện cả nước có 8 thương hiệu sản xuất vàng miếng vẫn là ít. Mỗi khi thị trường vàng “nổi sóng”, cả 8 thương hiệu này tung vàng ra bán vẫn còn “mệt”, huống chi nếu chỉ còn một mình SJC! “Chúng ta đang chống độc quyền, không lý do gì nay lại đem độc quyền về cho một thương hiệu vàng. Như vậy là không hợp lý. Chưa kể, tiền tỉ của các DN đầu tư vào máy móc, công nghệ, xây dựng hình ảnh… nay bỗng chốc thành số không” – vị này phân tích.

Bà Nguyễn Ngọc Quế Chi, Tổng Giám đốc Công ty Vàng bạc Đá quý Sacombank (SBJ), cho rằng thông tin về nghị định quản lý kinh doanh vàng miếng vẫn chưa ngã ngũ nhưng tâm lý người dân lại đang rất hoang mang. Kết quả là người dân đã chịu thiệt khi kéo nhau đi bán tháo vàng. Nếu NH Nhà nước đã cho 8 tổ chức, đơn vị được sản xuất kinh doanh vàng miếng trong thời gian qua thì nay phải có giải pháp xử lý khi chỉ còn SJC được tiếp tục. Chẳng hạn, NH Nhà nước cần có chính sách cho người dân bán lại vàng miếng của các thương hiệu khác theo giá hợp lý, rồi SJC dập lại thành vàng miếng thương hiệu của họ.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tin học kế toán

Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MICROSOFT EXCEL 1.1. Lập trang tính đơn giản: 1.1.1. Khởi động và màn hình Excel: * Một số khái niệm cơ bản: – Workbook: là một tập tin mà trên đó bạn làm việc (tính toán, vẽ đồ thị …) và lưu trữ dữ liệu. Trên 1 workbook có thể chứa nhiều bảng tính (worksheet). – Worksheet (bảng tính): là nơi lưu trữ và làm việc với các dữ liệu. Trong 1 worksheet có chứa nhiều ô (cell), được tổ chức thành các dòng (rows) và cột (columns). Một worksheet chứa được 256 cột, 65.536 dòng. Worksheet được chứa trong workbook. * Khởi động Excel: Cách 1: Nhấp đúp chuột trái vào biểu tượng shortcut trên màn hình: Cách 2: Vào Start -> Program -> Chọn Microsoft Office -> Chọn Excel Hình 1: Cách khởi động Excel * Mở rộng, thu hẹp cửa sổ, thoát khỏi Excel: – Phóng to, thu hẹp cửa sổ Excel: + Nhấp chuột trái vào biểu tượng Minimize ở góc trên bên phải màn hình -> Cửa sổ Excel được thu gọn lại thành một biểu tượng trên thanh Start Để phóng to trở lại màn hình ban đầu, nhấp chuột trái vào biểu tượng thu gọn của Excel. (chỉ thực hiện khi cửa sổ đang ở chế độ thu hẹp) + Nhấp chuột trái vào biểu tượng Restore ở góc trên bên phải màn hình -> Cửa sổ Excel được thu gọn lại với kích thước nhỏ hơn. Để phóng to trở lại, nhấp chuột lần nữa vào biểu tượng Restore. – Thoát khỏi Excel: Cách 1: Nhấp chuột trái vào biểu tượng Close ở góc trên bên phải màn hình Cách 2: Nhấn tổ hợp phím Alt + F4 Cách 3: Vào thực đơn File -> Chọn Close (đóng 1 cửa sổ đang làm việc) hoặc chọn Exit (thoát hoàn toàn). * Màn hình: – Giao diện của Excel như sau: Hình 2: Giao diện Excel – Các thành phần của màn hình Excel: + Menu bar (Thanh thực đơn): chứa các tùy chọn và bên trong các tùy chọn có các danh mục tùy chọn riêng biệt và chi tiết cho các đối tượng. Hình 3: Thanh thực đơn + Toolbar (Thanh công cụ): chứa các công cụ để thực hiện các thao tác nhanh. Hình 4: Thanh công cụ Lưu ý: Khi đưa chuột vào các biểu tượng, trên biểu tượng sẽ hiện lên dòng chữ cho biết công cụ đó là gì. Khi muốn sử dụng 1 công cụ chỉ cần nhấp chuột trái vào biểu tượng của công cụ đó trên toolbar. + Formating bar (Thanh định dạng): chứa các thao tác để căn chỉnh nhanh định dạng của bảng tính: font chữ, kiểu chữ, cỡ chữ, … Hình 5: Thanh định dạng + Scroll bar (Thanh cuốn dọc, thanh cuốn ngang): màn hình Excel chỉ cho phép hiển thị một phần bảng tính. Thanh cuốn dọc cho phép người dùng có thể theo dõi phần bảng tính bên trên hoặc bên dưới. Thanh cuốn ngang cho phép người dùng có thể theo dõi phần bảng tính bên trái hoặc bên phải. + Sheet tabs: Hình 6: Thanh sheet tabs  Di chuyển qua lại giữa các worksheet: Nhấp chuột trái vào tên sheet trên sheet tabs (Hoặc nhấn tổ hợp phím Ctrl + PgUp hoặc Ctrl + PgDown)  Đổi tên worksheet: Nhấp đúp chuột trái vào tên sheet trên sheet tabs -> Gõ tên mới vào -> Enter (hoặc nhấp chuột phải vào tên sheet trên sheet tabs -> chọn Rename -> Gõ tên mới -> Enter)  Sắp xếp thứ tự các worksheet: Nhấp chuột trái lên tên sheet cần đổi vị trí, giữ chuột và kéo đến vị trí mới và thả chuột.  Chèn thêm worksheet mới vào workbook: Vào thực đơn Insert -> Chọn Worksheets  Sao chép worksheet: Cách 1: Nhấp chuột phải vào tên sheet cần sao chép -> Chọn Move or Copy -> Đánh dấu chọn vào hộp Create a copy -> OK Cách 2: Sao chép: Nhấp chuột trái vào tên sheet -> Giữ Ctrl đồng thời kéo chuột tới một sheet khác  Xóa một worksheet: Cách 1: Nhấp chuột phải lên tên sheet cần xóa -> Chọn Delete -> Chọn OK Cách 2: Vào Edit -> Chọn Delete Sheet  Ẩn và hiện lại một sheet: Ẩn: Vào Format -> Chọn Sheet -> Chọn Hide Hiện: Vào Format -> Chọn Sheet -> Chọn Unhide  Bảo vệ bảng tính: Vào Tool -> Chọn Protection -> Chọn Protect sheet -> Gõ Password vào hộp Password to unprotect sheet Hình 7: Bảo vệ bảng tính + Formula bar (Thanh công thức): hiện công thức chứa trong các cell * Các thành phần của bảng tính: – Cột (column): tập hợp các ô trong bảng tính theo chiều dọc, được đánh theo thứ tự alphabe A, B, C… – Dòng (row): tập hợp các ô theo chiều ngang, được đánh số thứ tự – Ô (cell): giao nhau giữa 1 hàng với 1 cột, thường được ký hiệu với cột trước, dòng sau. Ví dụ: Ô A1 – giao giữa cột A – dòng 1 * Di chuyển trên bảng tính: – Nhấp trái chuột vào ô cần chuyển tới – Sử dụng các phím mũi tên: chuyển tới các hàng, cột lân cận – Nhấn phím Pg Up hoặc Pg Down: lên hoặc xuống 1 màn hình – Ctrl +  (hoặc Ctrl + ): đến cột đầu tiên (hoặc cột cuối cùng) của bảng tính – Ctrl +  (hoặc Ctrl + ): đến dòng đầu tiên (hoặc dòng cuối cùng) của bảng tính – Ctrl + Home: về ô A1 – Ctrl + End: đến ô cuối cùng của bảng dữ liệu 1.1.2. Các thao tác trên bảng tính: * Tạo tập tin mới: Cách 1: Vào thực đơn File -> Chọn New Cách 2: Nhấn tổ hợp phím Ctrl + N Cách 3: Nhấp chuột vào biểu tượng New trên thanh công cụ * Mở tập tin đã tạo: Bước 1: Cách 1: Vào thực đơn File -> Open Cách 2: Nhấn tổ hợp phím Ctrl + O Cách 3: Nhấp chuột vào biểu tượng Open trên thanh công cụ Bước 2: Trên màn hình xuất hiện bảng sau: Hình 8: Mở file có sẵn Vào ổ lưu trữ file cần mở -> Nhấp chuột vào tên file -> Chọn Open * Lưu tập tin vào máy: Bước 1: Cách 1: Vào File -> Chọn Save Cách 2: Nhấn tổ hợp phím Ctrl + S Cách 3: Nhấp chuột vào biểu tượng Save trên thanh công cụ Bước 2: Trên màn hình xuất hiện bảng sau: Hình 9: Lưu tập tin Chọn ổ cần lưu -> Gõ tên tập tin vào hộp File name -> Chọn Save Lưu ý: Nếu là tập tin quan trọng nên lưu vào ổ D hoặc E. 1.1.3. Xử lý dữ liệu trong bảng tính: * Nhập dữ liệu: – Nhập dữ liệu thô: + Dữ liệu bất kỳ: Nhấp chuột trái vào ô cần nhập -> Gõ dữ liệu vào ô vừa chọn, có thể là dạng chữ hoặc dạng số -> Nhấn Enter + Dữ liệu giống nhau: Cách 1: Đánh dấu khối miền cần nhập dữ liệu -> Gõ dữ liệu -> Nhấn tổ hợp Ctrl + Enter Cách 2: B1: Nhập dữ liệu vào ô đầu tiên trong khối B2: Di chuột vào góc dưới bên phải ô dữ liệu. Khi đó sẽ xuất hiện một dấu thập màu đen. B3: Nhấp và giữ chuột B4: Kéo chuột sang phải hoặc xuống dưới cho đến hết khối B5: Thả chuột để kết thúc việc nhập dữ liệu + Chuỗi dữ liệu với bước nhảy là 1 Cách 1: B1: Nhập dữ liệu vào ô đầu tiên trong khối B2: Di chuột vào góc dưới bên phải ô dữ liệu cho đến khi xuất hiện dấu thập màu đen B3: Giữ Ctrl và kéo chuột sang trái hoặc xuống dưới cho đến hết khối B4: Thả chuột để kết thúc việc nhập dữ liệu Cách 2: Gõ 1; 2 vào 2 ô đầu tiên -> Bôi đen 2 ô vừa nhập dữ liệu -> di chuột vào góc dưới bên phải đến khi xuất hiện dấu thập đen -> giữ và kéo chuột đến hết khối + Chuỗi dữ liệu với bước nhảy bất kỳ: Nhập dữ liệu vào 2 ô đầu tiên trong chuỗi -> Bôi đen 2 ô vừa nhập dữ liệu -> di chuột vào góc dưới bên phải ô đến khi hiện dấu thập đen -> giữ và kéo chuột đến hết khối. + Chuỗi ngày tháng: B1: Đưa con trỏ vào ô đầu tiên trong khối B2: Gõ dữ liệu vào ô vừa chọn B3: Di chuột vào góc dưới bên phải ô dữ liệu cho đến khi xuất hiện dấu thập đen B4: Giữ và kéo chuột đến hết khối dữ liệu rồi thả ra B5: Vào thực đơn Edit -> Chọn Fill -> Chọn Series -> Xuất hiện box sau: Hình 10: Hộp Fill Series – Nhập công thức: Bắt đầu bằng dấu = hoặc + -> Nhập công thức -> Nhấn Enter Trong hộp Step Value -> Nhập số bước nhảy (bước nhảy mặc định là 1) Trong mục Date unit: + Chọn Day -> tăng theo ngày + Chọn Weekday -> tăng theo ngày (không tính ngày thứ 7 và chủ nhật) + Chọn Month -> tăng theo tháng + Chọn Year -> tăng theo năm * Chọn khối, vùng dữ liệu: Cách 1: Đưa con trỏ vào ô đầu tiên trong khối -> Nhấp và giữ chuột kéo đến ô cuối cùng trong khối Cách 2: Nhấp chuột vào ô đầu tiên trong khối -> Giữ phím Shift đồng thời nhấn các phím mũi tên cho đến khi chọn hết khối Lưu ý: – Để chọn cả bảng tính, nhấp chuột vào phần giao nhau giữa các hàng và cột ở góc trên bên trái bảng tính – Để chọn toàn bộ cột: Nhấp chuột trái vào ký tự ứng với cột đó ở phía trên bảng tính – Để chọn toàn bộ dòng: Nhấp chuột trái vào số thứ tự cột ở phía bên trái bảng tính * Sửa, xóa dữ liệu: – Xóa dữ liệu: Chọn vùng dữ liệu cần xóa -> Nhấn phím Delete – Sửa dữ liệu: Cách 1: Sửa trên ô B1: Chọn vùng dữ liệu cần sửa B2: Nháy đúp chuột hoặc nhấn phím F2 B3: Thực hiện sửa ô -> Nhấn Enter Cách 2: Sửa trên thanh công thức Nhấp chuột vào thanh công thức -> Nhập dữ liệu -> Enter * Xử lý ô, hàng, cột trong bảng tính: – Thay đổi kích thước hàng, cột: + 1 cột, 1 hàng: di chuột vào vạch ngăn bên phải ký tự của cột hoặc bên dưới số thứ tự hàng cần thay đổi kích thước cho đến khi xuất hiện dấu mũi tên 2 chiều, giữ và kéo chuột để thu hẹp hoặc mở rộng kích thước cột, hàng. + n hàng, n cột: Cách 1: bôi đen những cột, hàng cần thay đổi kích thước, di chuột vào vạch ngăn giữa 2 cột bất kỳ trong khối, khi xuất hiện dấu mũi tên 2 chiều, giữ và kéo chuột để thay đổi kích thước cột, hàng. Cách 2: Hàng: Vào Format -> Chọn Columns -> Chọn Width Cột: Vào Format -> Chọn Rows -> Chọn Height – Chèn thêm hàng, cột: Cách 1: Vào Insert -> Columns -> Thêm 1 cột vào bên trái Insert -> Rows -> Thêm 1 hàng vào bên trên Insert -> Cells -> Shift cells right -> Thêm 1 ô vào bên phải Shift cells down -> Thêm 1 ô xuống bên dưới * Chuyển hàng thành cột và ngược lại: – Chọn các ô muốn đổi chỗ – Chọn Copy hoặc Ctrl+C – Đưa ô về ô đầu tiên cần dán – Nhấn chuột phải -> chọn Paste special -> Chọn Transpose -> OK * Ẩn hiện cột, hàng: Cách 1: Ẩn: Format -> Chọn Columns (Rows) -> Chọn Hide Hiện: Format -> Chọn Columns (Rows) -> Chọn Unhide Cách 2: Bôi đen toàn bộ dòng (cột) cần ẩn -> Nhấp chuột phải -> Chọn Hide Để hiện lại dòng (cột) đang ẩn -> Bôi đen toàn bộ dòng (cột) đang ẩn và vùng lân cận -> Nhấp chuột phải chọn Unhide * Đóng khung một khối dữ liệu: B1: Bôi đen khối dữ liệu cần đóng khung bằng cách nhấp chuột vào ô đầu tiên, kéo và giữ chuột đến ô cuối cùng trong khối sau đó thả chuột B2: Vào Format -> Chọn Cells -> Chọn Borders -> Chọn kiểu đóng khung -> OK *Dịch chuyển khối dữ liệu: B1: Bôi đen khối dữ liệu cần di chuyển B2: Di chuột vào viền của khối dữ liệu cho đến khi dấu thập trắng chuyển thành dấu mũi tên 4 chiều B3: Giữ và kéo chuột tới vị trí mới B4: Thả chuột ra * Chèn một khối dữ liệu vào giữa 2 khối dữ liệu cho trước: B1: Bôi đen khối dữ liệu cần chèn B2: Di chuột vào viền của khối dữ liệu cần chèn cho đến khi xuất hiện dấu mũi tên 4 chiều B3: Giữ và kéo chuột vào giữa 2 khối dữ liệu B4: Nhấn phím shift B5: Thả chuột ra 1.2. Một số dạng hàm thông dụng: 1.2.1. Quy tắc sử dụng hàm: Cấu trúc: “= TÊN HÀM (các tham biến) + Hàm phải bắt đầu bằng dấu = hoặc dấu + + Tên hàm có thể viết thường hoặc viết hoa, giữa tên hàm và các tham biến không được có dấu cách 1.2.2. Nhập hàm vào bảng tính: Cách 1: Gõ vào từ bàn phím Cách 2: Nhấp chuột vào biểu tượng fx trên thanh công thức Trong khung Select a category: chọn nhóm hàm cần sử dụng Financial: Nhóm hàm Tài chính Date & Time: Nhóm hàm Ngày, giờ Math & Trig : Nhóm hàm Toán học – Lượng giác Statistical: Nhóm hàm Thống kê Lookup & Reference: Nhóm hàm Tìm kiếm – Tham chiếu Database: Nhóm hàm chuỗi Text: Nhóm hàm ký tự Logical: Nhóm hàm Logic Information: Nhóm hàm thông tin Trong khung Select a function: chọn tên hàm cần dùng Chọn OK Cách 3: Vào Insert -> Chọn Function -> Chọn biểu tượng fx như trên -> Thực hiện như trên 1.2.3. Các hàm thường dùng: * Hàm toán học – lượng giác: – ABS(number): hàm tính giá trị tuyệt đối Ví dụ: =ABS(-5)  KQ: 5 – INT(number): làm tròn xuống số nguyên gần nhất Ví dụ: =INT(6.9) KQ: 6 – MOD(number,divisor): cho phần dư của phép chia Ví dụ: =MOD(10,3) KQ: 1 – ROUND(number,num_digits): làm tròn số tới vị trí n của phần thập phân Ví dụ: =ROUND(9.8765,2) KQ: 9.88 – SQRT(nukber): hàm khai căn bậc 2 Ví dụ: =SQRT(81) KQ: 9 – FACT(number): tính giai thừa Ví dụ: =FACT(3) KQ: 6 (3!=1*2*3) – LN(number): tính logarit ln Ví dụ: =LN(1) KQ: 0 – SUM(number1,number2,…): tính tổng của các dãy số – SUMIF(range,criteria,sum – range): tính tổng các ô trong 1 vùng thỏa mãn 1 điều kiện cho trước: range: là dãy các ô để so sánh với criteria. Trong các ô có thể chứa số, tên, mảng. criteria: là điều kiện để tính tổng (có thể là ký tự, số, biểu thức) quyết định ô nào trong vùng sum-range sẽ được tính tổng sum-range: là vùng thực sự được tính tổng. Các ô trong sum-range chỉ được cộng nếu các ô tương ứng của nó trong range thỏa mãn criteria. Nếu bỏ qua, excel sẽ coi như sum-range =range. Lưu ý: + sum-range không nhất thiết phải cùng kích thước với range + có thể dùng các ký tự đại diện cho 1 điều kiện: dấu ? đại diện cho 1 ký tự, dấu * đại diện cho nhiều ký tự (nếu điều kiện là tìm dấu ? hoặc * thì gõ thêm dấu ~ trước dấu ? hoặc *) + khi điều kiện để tính tổng là những ký tự, SUMIF không phân biệt chữ thường hay chữ hoa. Ví dụ: * Hàm thống kê: – AVERAGE(number1,number2,…): tính giá trị trung bình – COUNT(value1,value2,…): đếm số ô dữ liệu kiểu số – COUNTA(value1,value2,…): đếm số ô không rỗng trong vùng địa chỉ (gồm cả ô dữ liệu ký tự và dạng số) – COUNTIF(range,criteria): hàm đếm có điều kiện – LARGE (array,k): trả về phần tử lớn thứ k trong vùng địa chỉ – MAX(number1,number2,…): tìm giá trị lớn nhất trong vùng địa chỉ – MIN(number1,number2,…): tìm giá trị nhỏ nhất trong vùng địa chỉ – MODE(number1,number2,…): trả về giá trị xuất hiện nhiều nhất trong một vùng địa chỉ – RANK(number,ref,order): tính thứ hạng của 1 số trong danh sách + number: số cần tính thứ hạng + ref: vùng tham chiếu + order: = 0 (tính theo thứ tự giảm dần), <> 0 (tính theo thứ tự tăng dần) – SMALL(array,k): trả về phần tử nhỏ thứ k trong vùng địa chỉ * Hàm ký tự: – LEFT(text,num-chars): trả về n ký tự từ bên trái sang của chuỗi ký tự (tính cả dấu cách) VD: =LEFT(“the quick fox”,9) KQ: the quick – LEN(text): tính độ dài chuỗi ký tự (tính cả dấu cách) VD: =LEN(“the quick fox”) KQ: 13 – LOWER(text): chuyển thành chữ thường VD: =LOWER(“FOX”) KQ: fox – MID(text,start_num,num_chars): trích xuất 1 chuỗi con từ 1 chuỗi ký tự + text: chuỗi ký tự + start_num: vị trí bắt đầu trích ra chuỗi con + num_chars: số ký tự trích xuất Nếu start_num > num_chars: chuỗi con sẽ là chuỗi rỗng VD : =MID(« the quick fox »,5,9) KQ: quick fox – UPPER(text): chuyển chữ thường thành chữ hoa VD: =UPPER(“fox”) KQ: FOX – PROPER(text): chuyển chữ cái đầu tiên thành chữ hoa VD: =PROPER(“the quick fox”) KQ: The Quick Fox – VALUE(text): chuyển text sang dạng số (text phải có định dạng kiểu số, ngày tháng hoặc bất kỳ một dữ liệu thời gian nào được Excel công nhận) – RIGHT(text, num_chars): trả về n ký tự từ bên phải sang của chuỗi ký tự VD: =RIGHT(“the quick fox”,3) KQ: fox – TRIM(text): xóa những ký tự trắng trong chuỗi, trừ dấu cách đơn giữa 2 từ * Hàm ngày tháng: – DAY(serial_number): trả về ngày VD: =DAY(“09/29/2011”) KQ: 29 – MONTH(serial_number): trả về tháng VD: =MONTH(“09/29/2011”) KQ: 9 – YEAR(serial_number): trả về năm VD: =YEAR(“09/29/2011”) KQ: 2011 ¬- TODAY(): trả về ngày hiện tại – WEEKDAY(serial_number,return_type): trả về số thứ tự của ngày trong tuần return_type: = 1 (1 7: CN – T7) = 2 (1 7: T2 – CN) = 3 (0 6: T2 – CN) VD: =Weekday(“29/09/2011”,2) KQ: 4 * Hàm logic: – IF(logical_test,value_if_true,value_if-false): nếu – AND(logical1,logical2,…): và (nếu tất cả các biểu thức đều đúng excel sẽ trả về giá trị true, chỉ cần 1 trong các biểu thức sai excel sẽ trả về giá trị false) – OR(logical1,logical2,…): hoặc (nếu tất cả các biểu thức đều sai excel sẽ trả về giá trị false, chỉ cần 1 trong các biểu thức đúng excel sẽ trả về giá trị true) * Hàm tìm kiếm: – VLOOKUP(lookup_value,table_array,col_index_num,range_lookup): dò tìm và trả về 1 giá trị trên cột đầu tiên + lookup_value: giá trị cần tìm + table_array: vùng cần tìm, thường để ở chế độ giá trị tuyệt đối $ + col_index_num: cột cần lấy (trong vùng cần tìm) + range_lookup: cách tìm, tìm theo 2 giá trị 0: cột bên trái của vùng cần tìm không sắp xếp (ngầm định) 1: sắp xếp tăng dần – HLOOKUP(lookup_value,table_array,row_index_num,range_lookup): dò tìm và trả về 1 giá trị trên dòng đầu tiên ‘ (tương tự hàm VLOOKUP) * Hàm cơ sở dữ liệu: – DSUM(database,field,criteria): tính tổng trên cơ sở dữ liệu – DMAX(database,field,criteria): tìm giá trị lớn nhất của CSDL – DMIN(database,field,criteria): tìm giá trị nhỏ nhất của CSDL – DAVERAGE(database,field,criteria): tính giá trị trung bình của CSDL – DCOUNT(database,field,criteria): đếm các trường trong CSDL kiểu số – DCOUNTA(database,field,criteria): đếm các trường trong CSDL (cả kiểu số và ký tự) Chương 2: CƠ SỞ DỮ LIỆU 2.1. Một số khái niệm cơ bản: 2.1.1. Khái niệm: – Là tập hợp các dữ liệu được sắp xếp trên 1 vùng chữ nhật của bảng tính theo quy định: hàng đầu tiên ghi các tiêu đề của dữ liệu, mỗi tiêu đề trên 1 cột, các tiêu đề được gọi là trường (field). Từ bảng thứ 2 trở đi chứa dữ liệu, mỗi hàng là 1 bảng ghi (record). Chú ý: tên các trường phải là dạng ký tự, không được dùng số, công thức, tọa độ,… nên đặt tên trường ngắn gọn không trùng lặp. 2.1.2. Sắp xếp trên cơ sở dữ liệu: – Chọn vùng dữ liệu cần sắp xếp – Vào Data -> Chọn Sort + Sort by: Cột ưu tiên nhất + Then by: Cột ưu tiên thứ 2, 3… + Ascending: sắp xếp theo thứ tự tăng dần + Descending: sắp xếp theo thứ tự giảm dần Trong mục My data range has: + Header row: miền dữ liệu có chứa hàng tiêu đề + No header row: miền dữ liệu không chứa hàng tiêu đề Trong mục Options: + Case sensitive: phân biệt chữ hoa với chữ thường Trong Orientation: + Sort top to bottom: sắp xếp các dòng trong CSDL + Sort left to right: sắp xếp các cột trong CSDL 2.3. Tổng kết theo nhóm: 2.3.1. Tổng kết theo 1 loại nhóm: Excel cho phép tạo các dòng tổng kết trong 1 CSDL, Subtotals sẽ chèn tại các vị trí cần thiết các tính toán thống kê theo yêu cầu của người sử dụng. Các bước thực hiện: – Sắp xếp dữ liệu theo trường cần tạo Subtotals – Chọn Data -> Subtotals -> Xuất hiện hộp thoại: + At each change in: chọn đơn vị trường cần tạo nhóm + Use function: chọn hàm cần tính toán + Add subtotal to: Muốn hủy bỏ việc tính tổng theo nhóm: Vào Data -> chọn Subtotals -> Chọn Remove All 2.3.2. Tổng kết theo nhiều loại nhóm: (sử dụng pivot table) 2.4. Lọc cơ sở dữ liệu: 2.4.1. Lọc tự động: B1: Chọn vùng cần lọc B2: Vào Data -> Chọn Filter -> Chọn Auto Filter Trên ô tên trường xuất hiện dấu mũi tên hướng xuống B3: Nhấp chuột vào dấu mũi tên, xuất hiện 1 danh mục: + All: hiển thị toàn bộ bảng ghi cho cột + Top 10: lọc một số bảng ghi có giá trị đứng đầu hoặc đứng cuối danh sách + Custom: trong cửa sổ custom, người sử dụng có thể tự điều chỉnh điều kiện lọc -> Ok 2.4.2. Lọc nâng cao: B1: Chuẩn bị vùng tiêu chuẩn chứa điều kiện lọc – Dòng 1: tiêu đề của điều kiện lọc – Dòng thứ 2 trở đi: chứa các điều kiện lọc B2: Vào Data -> Filter -> Advanced Filter -> Xuất hiện hộp thoại: Trong Action: + Filter the list, in – place: lọc tại chỗ + Copy to another location: lọc và sao chép sang 1 sheet khác Trong list range: nhập khối dữ liệu cần lọc Trong criteria range: nhập khối điều kiện lọc Trong copy to: nhập địa chỉ nơi muốn copy tới -> OK * In ấn: Vào File -> Print (hoặc nhấn Ctrl + P) -> xuất hiện hộp thoại Print – Mục Printer: + Name: chọn tên máy in – Mục Print-range: + All: in toàn bộ bảng tính + Page(s) From… To… : in từ trang … đến … – Mục Print what: + Selection: chỉ in vùng dữ liệu đã chọn (phần được bôi đen trong bảng tính) + Active sheets: chỉ in các trang trong sheet hiện hành + Entire workbook: in tất cả các trang trong tệp tin – Mục Copies: + Number of copies: nhập số bản in + Collate: in theo thứ tự -> OK * Định dạng trang in: Vào File -> Chọn Page setup -> xuất hiện hộp thoại: – Thẻ Page: thiết lập trang giấy + Orientaion: hướng in Portrait: in dọc giấy Landscape: in ngang giấy + Scaling: tỷ lệ in Paper size: loại kích thước giấy in (thường chọn A4) Print quality: chất lượng in First page number: (auto): máy sẽ chọn đánh trang đầu là 1 – Thẻ Margin: căn chỉnh lề cho trang in + Top: khoảng cách lề trên + Bottom: khoảng cách lề dưới + Left: khoảng cách lề trái + Right: khoảng cách lề phải + Header, footer: khoảng cách đến tiêu đề đầu, tiêu đề cuối + Horizontally: căn bảng tính vào giữa trang giấy theo chiều ngang + Vertically: căn bảng tính vào giữa trang giấy theo chiều dọc – Thẻ Header/Footer: Tạo tiêu đề đầu, tiêu đề cuối trang cho bảng tính – Thẻ Sheet: + Print area: Chọn vùng in + Mục Print titles: Rows to repeat at top: chọn hàng lặp lại ở đầu các trang tiếp theo Columns to repeat at left: chọn cột lặp lại ở đầu các trang tiếp theo + Mục Print: Gridlines: ẩn/hiện đường viền các ô như trong bảng tính Row and columns heading: ẩn/hiện dòng và cột thứ tự hàng, cột Black and white: in 2 màu đen trắng Comments: None: không hiện ghi chú – At end of sheet: in cuối bảng tính – As display on sheet: như trong bảng tính. Muốn in comments đi kèm địa chỉ ô, chọn đồng thời check box của comments và chọn row and columns heading. Draft quality: làm giảm độ sắc nét của trang in, không hiện các đường gridlines. Mục này sẽ làm tăng tốc độ in. + Mục Page order: chọn thứ tự trang in Down, then over: xuống dưới rồi sang ngang Over, then down: sang ngang rồi xuống dưới

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chương 2 (Tham khảo)

Chương 2:

 

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

 

2.1.) Khái niệm dự án đầu tư

2.1.1.) Tuỳ theo tính chất dự án và quy mô đầu tư

2.1.2.) Theo trình tự duyệt và lập dự án

2.2.) phân loại dự án đầu tư:

2.2.1.)tuỳ theo tính chất dự án và qui mô đầu tư

2.2.2,)theo trình tự duyệt và lập dự án

2.3.) Vấn đề quản lý dự án đầu tư

2.3.1.) Quản lý dự án

2.3.2.) Bản chất của quản lý dự án

2.3.3.) Tính khả thi của một dự án

2.3.4.) Một số phương pháp quản lý dự án xây dựng

2.3.5.) Thẩm định & đánh giá dự án đầu tư

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG 2

 

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

 

2.1.) KHÁI NIỆM DỰ ÁN ĐẦU TƯ:

Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự  tăng trưởng về mặt số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoản thời gian xác định.

2.2.) PHÂN LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ:

2.2.1.)TUỲ THEO TÍNH CHẤT DỰ ÁN VÀ QUI MÔ ĐẦU TƯ, dự án đầu tư trong nước phân thành ba nhóm: A, B, C để phân cấp quản lý. Đặc trưng của mỗi nhóm được quy định trong bản

Đối với các dự án nhóm A gồm nhiều dự án thành phần (tiểu dự án) trong đó nếu từng dự án thành phần có thể độc lập vận hành, khai thác và thực hiện theo phân kỳ đầu tư được ghi trong văn bản phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của người có thẩm quyền thì mỗi dự án thành phần được thực hiện giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư như trình tự một dự án đầu tư độc lập,.

Phân loại dự án đầu tư của Quy chế Quản lí đầu tư và xây dựng được ban hành kèm theo Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05-5-2000 của Chính phủ về sửa đổi bổ xung Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08-7-1999

2.2.2,)THEO TRÌNH TỰ DUYỆT VÀ LẬP DỰ ÁN:

+Dự án tiền khả thi: hồ sơ trình duyệt ở bước này gọi là báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.

+Dự án khả thi: hồ sơ trình duyệt ở bước này gọi là báo cáo nghiên cứu khả thi.

Đối với các dự án thuộc nhóm A, các dự án sử dụng nguồn vốn hổ trợ phát triển chính thức ODA cần phải lập theo hai bước: nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi. Đối với một số dự án thuộc nhóm B, nêu xét thấy cần thiết có thể tiến hành lập theo hai bước (do người có thẩm quyền ra quyết định đầu tư thực hiện ).

Đối với các dự án còn lại chỉ lập theo một bước là nghiên cứu khả thi.

 

 

 

STT

LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ

TỔNG MỨC VỐN ĐẦU TƯ

1

2

 

3

4

 

5

6

 

1

2

 

3

 

4

1

 

 

2

 

3

 

4

I. NHÓM A

 

Các dự án thuộc phạm vi bảo vệ an ninh quốc phòng có tính bảo mật quốc gia, có ý nghĩa chính trị – xã hội quan trọng, thành lập và xây dựng hạ tầng khu công nghiệp mới.

 

Các dự án sản xuất chất độc hại chất nổ không phụ thuộc vào qui mô vốn đầu tư.

 

Các dự án: công nghiệp điện, khai thác dầu khí , chế biến dầu khí, hoá chất phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tàu lắp ráp ôtô), xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng sản, các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ.

 

Các dư án : thuỷ lợi, giao thông (khác ở điểm I-3), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu , bưu chính viễn thông, BOT trong nước, xây dựng khu nhà ơ, giao thông nội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt.

 

Các dư án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị nới, các dự án: công nghiệp nhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh, in; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên , mua sắm thiết bị xây dựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản

 

 

Các dự án: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh,truyền hình xây dựng dân dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và dự án khác.

 

II. NHÓM B

 

Các dự án: công nghiệp điện, khai thác dầu khí , chế biến dầu khí, hoá chất phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tàu lắp ráp ôtô), xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng sản, các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ.

 

Các dự án : thuỷ lợi, giao thông (khác ở điểm I-3), cấp thoát nức và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu , bưu chính viễn thông, BOT trong nước, xây dựng khu nhà ơ, giao thông nội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt.

 

Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị nới, các dự án: công nghiệp nhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh, in; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên , mau sắm thiết bị xây dựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản

 

Các dự án: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình xây dựng dân dụng, kho tàng, du lich thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và dự án khác.

III. NHÓM C

 

Các dự án: công nghiệp điện, khai thác dầu khí , chế biến dầu khí, hoá chất phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tàu lắp ráp ôtô), xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng sản, các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ. Các trường phổ thông nằm trong quy hoạch  ( không kể mức vốn đầu tư)

 

Các dự án : thuỷ lợi, giao thông (khác ở điểm I-3), cấp thoát nức và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu , bưu chính viễn thông, BOT trong nước, xây dựng khu nhà ơ, giao thông nội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt.

 

 

Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị nới, các dự án: công nghiệp nhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, mua sắm thiết bị xây dựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản

 

Các dự án: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình xây dựng dân dụng, kho tàng, du lich thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và dự án khác.

 

 

 

 

Không kể mức vốn

 

 

Không kể mức vốn

 

 

Trên 600 tỷ đồng

 

 

 

 

Trên 400 tỷ đồng

 

 

 

 

 

Trên 300 tỷ đồng

 

 

 

Trên 200 tỷ đồng

 

 

 

 

Từ 30 đến 600 tỷ đồng

 

 

 

 

 

Từ 20 đến 400 tỷ đồng

 

 

 

 

Từ 15 đến 300

tỷ đồng

 

 

 

Từ 7 đến 200

tỷ đồng

 

 

 

 

Dưới 30 tỷ đồng

 

 

 

 

Dưới 20 tỷ đồng

 

 

 

 

 

 

Dưới 15 tỷ đồng

 

 

 

Dưới 7 tỷ đồng

   Ghi chú:

  1. Các dự án nhóm A về đường sắt, đường bộ phải được phân đoạn theo chiều dài đường, cấp đường, cầu, theo hướng dẫn của bộ giao thông vận tải sau khi thống nhất với bộ kế hoạch và đầu tư.
  2. Các dự án xây dựng trụ sở, nhà làm việc của cơ quan nhà nước phải thực hiện theo quyết định của thủ tướng chính phủ.

 

2.3.) VẤN  ĐE  QUẢN  LÍ  DỰ  ÁN  ĐẦU  TƯ

Ta biết rằng ngành xây dựng cung cấp cho xã hội những nhu cầu cơ bản như: nhà ở, nước uống, đường xá, trường học, bệnh viện… nên việc tạo ra những sản phẩm xây dựng đó có một hiệu quả thị trường không chỉ về mặt kinh tế mà cả về mặt xã hội. Đối với những nước đang phát triển như nước ta thì điều này lại càng có ý nghĩa đặc biệt. Chính vì lẽ đó mà việc quản lý có hiệu quả các dự án xây dựng là vô cùng quan trọng nhằm tránh gây lãng phí những nguồn lực vốn đã rất hạn hẹp.

2.3.1). QUẢN LÝ DỰ ÁN:

Để trả lời câu hỏi này, các nhà quản trị đã đưa ra nhiều định nghĩa về quản lý dự án:

° Quản lý dự án là việc điều phối và tổ chức các bên khác nhau tham gia vào một dự án nhằm hoàn thành dự án đó theo những hạn chế được áp đặt bởi:

 

 

 

 

 

 

 

° Quản lý dự án là việc lập kế hoạch tổng thể, điều phối và kiểm soát một dự án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, nhằm đảm bảo sự hoàn thành đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách và các yêu cầu kỹ thuật đã được xác định trước cũng như cách thức và chất lượng thực hiện.

2.3.2.) BẢN CHẤT CỦA QUẢN LÝ DỰ ÁN:

Quản lý một dự án xây dựng rất khác quản lý một tổ chức có trạng thái ổn định.

Ví dụ:

Một trường đại học, một nhà máy hay một bệnh viện chẳng hạn. Mặc dù số lượng sinh viên và cán bộ công nhân viên trong trường mỗi năm mỗi khác nhưng sự thay đổi đó là không đáng kể và người quản lý có thể chủ động điều chỉnh, kiểm soát được. Trong sản xuất cũng vậy, nề nếp sản xuất của một nhà máy cũng không thay đổi nhanh từng tháng, từng năm dù cho các mô hình mới, thiết bị mới đã lần lượt thay thế những cái cũ. Hay trong một bệnh viện, quy trình điều trị bệnh nhân biến đổi rất chậm qua thời gian. Mặc dù có những tiến bộ trong khoa học, y tế, nhìn chung công tác điều hành bệnh viện luôn theo một nề nếp cũ, ít thay đổi.

Trong khi đó quản lý dự án là quản lý sự thay đổi của dự án. Sự thay đổi đó diễn ra từng ngày từng giờ, xảy ra một lần duy nhất không được xác định rõ ràng và bất thường. Đó chính là bản chất đặc trưng của quản lý dự án xây dựng.

Như vậy, có thể nói rằng việc quản lý dự án phức tạp hơn nhiều so với việc quản lý một công ty sản xuất. Vấn đề ở đây là làm thế nào để quản lý được các dự án xây dựng một cách có hiệu quả nhất?

2.3.3.)  TÍNH KHẢ THI CỦA MỘT DỰ ÁN 

            Trong phần lập dự án người lập dự án cũng như người thẩm định dự án đều phải quan tâm trước hết tính khả thi của dự án. Mỗi dự án đầu tư được gọi là khả thi nếu hội đủ các tính chất sau:

2.3.3. 1,)  Hợp pháp:

                  Hợp pháp là phù hợp với luật pháp bao gồm cả các văn bản, các quy định dưới luật có đủ các căn cứ pháp ly, tư cách pháp nhân của các đối tác, giấy phép hành nghề, khả năng tài chính, sở trường kinh doanh, các thông tin khác liên quan đến các đối tác, các hợp đồng liên quan, các văn bản xác nhận quy hoạch, đất đai định giá tài sản góp vốn, giá cả áp dụng.

 2.3.3. 2.)  Hợp lý:

– Phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của các ngành kinh tế, vùng kinh tế cũng như địa phương.

– Các số liệu dữ liệu phải có đủ căn cứ, nguồn cung cấp phải có đủ tư cách pháp nhân. Không được sử dụng các dữ liệu không rõ xuất xứ, hoặc xuất xứ không đảm bảo về mặt pháp lý.

– Các phương pháp tính toán phải có đủ cơ sở khoa học

– Các phương pháp lựa chọn phải phù hợp với các điều kiện cụ thể của dự án, phù hợp với đặc niệm, thể trạng của người Việt Nam, phù hợp với truyền thống tập quán của cư dân.

– Nội dung, hình thức trình bày phải phù hợp với các qui định, hướng dẫn, chỉ dẫn các cơ quan có trách nhiệm.

2.3.3. 3.)  Có thể thực hiện được :

                 Mọi phương án, giải pháp được lựa chọn phải phù hợp với thực tế, có tính hiện thực, có khả năng thực hiện được trong điều kiện cụ thể của nước ta của từng địa phương. Tránh tình trạng sau khi được xét duyệt lại không được thực hiện, phải cắt giảm qui mô, kéo dài thời gian đòi tăng vốn… vì các giải pháp nêu ra trong dự án chưa được cân nhắc kỹ lưỡng hoặc quá ảo tưởng.

2.3.3. 4.)  Khả năng mang lại hiểu quả rỏ rệt:

Trong dự cần để một phần quan trọng để chứng minh hiệu quả của dự án về mặt tài chính cũng như về mặt kinh tế xã hội, thể hiện bằng các chỉ tiêu cụ thể.

Phương pháp xác định các chỉ tiêu này phải đúng học thuật. Tránh tình trạng cố tình phóng đại các chỉ tiêu hiệu quả, làm cho dự án mất tính trung thực. Ngoài ra cần xem xét các chỉ tiêu an toàn về đầu tư khả năng trả nợ, phân tích độ nhạy của dự án.

Như vậy để có một dự án được tính khả thi, cần có một quá trình nghiên cứu tỉ mỉ, cẩn thận. Do đó đối với các dự án lớn, phức tạp, những dự án có yêu cầu đặc biệt ta phải tiến hành theo hai bước: nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi. Còn đối với các dự án tương đối đơn giản ta chỉ cần tiến hành một bước là nghiên cứu khả thi mà không cần lập nghiên cứu tiền khả thi.

2.3.4.) MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DƯNG:

2.3.4.1.)  Phương pháp quản lý dự án xây dựng trên thế giới:

°Phương pháp quy ước:

Phương pháp này được áp dụng phổ biến nhất.

Chủ đầu tư thuê một đơn vị tư vấn chịu trách nhiệm lập dự án, thiết kế và soạn thảo các văn bản đấu thầu, giúp cho chủ đầu tư tổ chức việc đấu thầu và giám sát công trình thi công xây lắp của nhà thầu.

°Phương pháp quản lý theo dự án:

Chủ đầu tư thuê một đơn vị tư vấn thay mình đứng ra giao dịch với các đơn vị thiết kế, cung ứng vật tư và đơn vị nhận thầu thi công.

Đơn vị tư vấn chịu trách nhiệm giám sát mọi mặt nhưng không phải là người tổng thầu xây dựng.

°Phương pháp chìa khoá trao tay:

Chủ đầu tư chỉ quan hệ với một đơn vị tổng thầu chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình lập dự án, thiết kế đến thi công xây lắp hoàn chỉnh để giao cho chủ đầu tư vận hành sử dụng.

°Phương pháp tự quản:

Sử dụng lực lượng nội bộ trong đơn vị của chủ đầu tư tiến hành mọi việc liên quan đến xây dựng công trình từ việc lập dự án, thiết kế đến thi công rồi đưa vào sử dụng.

Người ta thường sử dụng phương pháp này chủ yếu trong lĩnh vực chuyên ngành đặc biệt: dầu khí, năng lượng, nguyên tử…

2.3.4.2.) Phương pháp quản lý dự án xây dựng ở Việt Nam:

°Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án:

Chủ đầu tư tổ chức tuyển chọn và trực tiếp ký hợp đồng với một hoặc nhiều tổ chức tư vấn để thực hiện công tác khảo sát, thiết kế công trình, soạn thảo hồ sơ mời thầu, tổ chức đấu thầu hoặc chỉ định thầu.

Sau khi chủ đầu tư ký hợp đồng với nhà thầu xây lắp, nhiệm vụ giám sát, quản lý quá trình thi công đảm bảo tiến độ chất lượng công trình vẫn do tổ chức tư vấn đã lựa chọn đảm nhận.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

°Chủ nhiệm điều hành dự án:

Chủ đầu tư tổ chức tuyển chọn và trình cấp có thẩm quyền quyết định tổ chức tư vấn thay mình làm chủ nhiệm điều hành dự án chịu trách nhiệm giao dịch, ký kết hợp đồng với các tổ chức khảo sát, thiết kế, cung ứng vật tư, trang thiết bị xây lắp để thực hiện các nhiệm vụ của quá trình thực hiện dự án. Đồng thời chịu trách nhiệm giám sát toàn bộ quá trình thực hiện dự án.

Hình thức chủ nhiệm điều hành dự án chỉ áp dụng đối với các dự án có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp và thời gian xây dựng dài.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

°Chìa khoá trao tay:

Chủ đầu tổ chức đấu thầu dự án để lựa chọn một nhà thầu (tổng thầu xây dựng) thực hiện dự án (thiết kế, mua sắm vật tư, trang thiết bị xây lắp…)

Chủ đầu tư chỉ trình duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, nghiệm thu và nhận bàn giao khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng. Tổng thầu xây dựng có thể giao thầu lại việc khảo sát, thiết kế, mua sắm trang thiết bị hoặc một phần khối lượng công tác xây lắp cho các nhà thầu phụ.

Hình thức này được áp dụng cho các công trình nhà ở, công trình dân dụng và công trình sản xuất kinh doanh có quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

°Tự làm:

Chủ đầu tư sử dụng lực lượng được phép hành nghề xây dựng của mình để thực hiện toàn bộ khối lượng công việc.

Hình thức này chỉ áp dụng đối với các công trình sửa chữa, cải tạo quy mô nhỏ, công trình chuyên ngành đặc biệt (xây dựng nông lâm nghiệp và các công trình tự đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp xây dựng).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tùy từng dự án đầu tư cụ thể mà chủ đầu tư sẽ lựa chọn một hình thức quản lý thích hợp. Nhưng dù với hình thức nào thì mục tiêu của việc quản lý dự án vẫn là:

–     Hoàn thành dự án trong giới hạn giá thành quy định.

–     Hoàn thành dự án trong thời gian quy định.

–     Xây dựng đạt tiêu chuẩn chất lượng quy định.

–     Bảo đảm sức khoẻ và an toàn cho người tham gia.

Muốn vậy đòi hỏi phải có những quy định cụ thể xác định rõ vai trò và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân tham gia vào dự án đầu tư.

Tuy nhiên, một điều cần nói thêm là bản thân những quy định, những thủ tục tự nó không thể quản lý được. Ta biết rằng dự án được quản lý bởi con người mà con người được coi là chủ thể sáng tạo ra quyết định và bằng những thủ tục, quy định lại tác động vào con người khác để cùng nhau hành động vì mục đích hoàn thành dự án theo đúng yêu cầu đặt ra.

Đồng thời, quản lý dự án còn được xem như một lĩnh vực nghệ thuật vì tính phong phú, mềm mại và linh hoạt của nó. Quản lý dự án xây dựng phải luôn đổi mới và sáng tạo, hoàn thiện không ngừng trên cơ sở những nguyên lý được đúc kết bởi thực tiễn và lý luận. Quản lý dự án xây dựng không có chổ cho bất kỳ một sự áp đặt thô thiển nào, và ngược lại thì không còn là quản lý dự án nữa.

2.3.5.) THẨM ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

           Quá trình thẩm định dự án đầu tư được quy định trong Nghị định số 52/1999/NĐ – CP ngày 08 -7 – 1999 của Chính phủ Về việc ban hành Quy chế quản lí đầu tư và xây dựng.

° Thẩm định dự án đầu tư

1. Những dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn do doanh nghiệp Nhà nước đầu tư phải được thẩm định. Việc thẩm định dự án đầu tư phải do cơ quan chức năng của Nhà nước có thẩm quyền và tổ chức tín dụng nhà nước thực hiện( đối với các dự án sử dụng vốn tín dụng).

Chủ đầu tư có trách nhiệm trình báo cáo nghiên cứu khả thi tới người có thẩm quyền quyết định đầu tư và đồng gửi đến cơ quan có chức năng thẩm định theo quy định.

2. Đối với báo cáo nghiên cứu tiền khả thi các dự án nhóm A, chủ đầu tư trực tiếp trình Thủ Tướng Chính Phủ và đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Bộ quản lí ngành để xem xét báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Khi có văn bản Thủ tướng Chính phủ chấp thuận mới tiến hành lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc tiếp tục thăm dò, đàm phán kí thỏa thuận giữa các đối tác tham gia đầu tư trước khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua và quyết định chủ trương đầu tư. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội.

3. Các dự án được lập báo cáo đầu tư thì không phải thẩm định. Chủ đầu tư có trách nhiệm trình người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét báo cáo đầu tư để quyết định đầu tư.

4. Đối với các dự án khu đô thị mới( hoặc dự án thành phần ) nếu phù hợp với quy hoạch chi tiết và dự án phát triển kết cấu hạ tầng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì chỉ thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi.

5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn hồ sơ thẩm định dự án đầu tư.

6. Thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư.

a. Đối với các dự án nhóm A.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chủ trì thẩm định có trách nhiệm lấy ý kiến của Bộ quản lí ngành, các Bộ, địa phương có liên quan. Tùy theo từng yêu cầu cụ thể đối với từng dự án, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có thể mời các tổ chức hoặc chuyên gia tư vấn thuộc các Bộ khác có liên quan để tham gia thẩm định dự án.

Đối với các dư án được sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, tổ chức cho vay vốn thẩm định phương án tài chính và phương án trả nợ trước khi trình người có thẩm quyền quyết định đầu tư.

b. Đối với cá dự án nhốm B, C, sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng phát triển của Nhà nước.

– Người có thẩm quyền quyết định đầu tư sử dụng cơ quan chuyên môn trực thuộc đủ năng lực tổ chức thẩm định, có thể mời cơ quan chuyên môn của các Bộ, ngành khác có liên quan để thẩm định dự án.

– Các dự án thuộc cấp Tỉnh quản lí, Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối tổ chức thẩm định dự án có trách nhiệm lấy ý kiến các cơ quan có liên quan.

– Tổ chức cho vay vốn thẩm định phương án tài chính và phương án trả nợ và chấp thuận cho vay trước khi trình người có thẩm quyền quyết định đầu tư.

° Nội dung thẩm định dự án đầu tư.

               1. Các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước phải được thẩm định về:

a) Sự phù hợp với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị nông thôn.

b) Chế độ khai thác và sử dụng tài nguyên quốc gia ( nếu có).

c) Các ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước mà dự án đầu tư có thể được hưởng theo quy chế chung.

d) Phương án công nghệ và quy mô sản xuất, công suất sử dụng.

e) Sử dụng đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, kế hoạch tái định cư( nếu có ).

g) Phòng, chống cháy nổ, an toàn lao động và các vấn đề xã hội của dự án.

h) Các vấn đề rủi ro của dự án có thể xảy ra trong quá trình thực hiện làm ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư.

i) Đánh giá tổng thể và tính khả thi của dự án.

2. Các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh còn phải thẩm định các điều kiện tài chính, giá cả, hiệu quả đầu tư và phương án hoàn trả vốn đầu tư của dự án.

° Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư.

              Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ để thẩm định các dự án đầu tư.

Tùy theo quy mô tính chất và sự cần thiết của từng dự án, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư thẩm định hoặc thẩm định lại trước khi quyết định đầu tư.

° Thời hạn thẩm định các dự án đầu tư kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

             1. Các dự án đầu tư thuộc nhóm A : thời hạn thẩm định không quá 60 ngày.

2. Các dự án đầu tư thuộc nhóm B : thời hạn thẩm định không quá 30 ngày.

3. Các dự án đầu tư thuộc nhóm C : thời hạn thẩm định không quá 20 ngày.

° Kinh phí lập dự án, thẩm định dự án đầu tư.

             1. Dự án đầu tư thuộc nguồn vốn nào thì kinh phí cho việc lập dự án, lệ phí thẩm định dự án được tính trong nguồn vốn đó. Đối với các dự án chưa xác định được nguồn vốn đầu tư bao gồm cả dự án sẽ được hỗ trợ tín dụng đầu tư của Nhà nước thì chủ đầu tư sử dụng nguồn vốn hợp pháp của mình hoặc vay vốn ngân hàng để thực hiện và sau khi xác định được nguồn vốn chính thức sẽ hoàn trả.

2. Kinh phí cho công tác tư vấn lập dự án, lệ phí thẩm định dự án, chi phí thuê chuyên gia thẩm định dự án được xác định trong nguồn vốn đầu tư của dự án. Bộ Xây dựng thống nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết chi phí thuê chuyên gia thẩm định. Bộ Tài chính thống nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Xây dựng ban hành lệ phí thẩm định dự án đầu tư.

3. Sau khi thẩm định dự án, nếu dự án không được thực hiện thì chi phí cho công tác lập và thẩm định dự án được trích từ nguồn vốn của doanh nghiệp hoặc phải trích từ kinh phí sự nghiệp thuộc các cơ quan hành chính sự nghiệp hoặc trích từ vốn ngân sách Nhà nước đã bố trí cho dự án trong kế hoạch để thanh toán.

 

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chương 1 (Tham khảo)

Chương 1:

 

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG

1.1.) Khái niệm quá trình đầu tư và xây dựng

1.2.) Phân loại đầu tư

1.2.1.) Theo chức năng quản lý vốn đầu tư

1.2.2.) Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư

1.2.3.) Theo ngành đầu tư

1.2.4.) Theo tính chất đầu tư

1.2.5.) Theo nguồn vốn

1.2.6.) Theo chủ đầu tư

1.2.7.) Theo phạm vi đầu tư

1.3.)  Mục đích và mục tiêu đầu tư

1.3.1.) Mục đích

1.3.2.) Mục tiêu

1.4.) Nội dung của quá trình đầu tư

1.4.1.) Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

1.4.2.) Giai đoạn thực hiện đầu tư

1.4.3.) Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng.

1.4.4.) Phương hướng nâng cao hiệu quả đầu tư và xây dựng

1.5.) Vốn đầu tư

1.5.1.) Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản

1.5.2.) Ý nghĩa vốn đầu tư

1.5.3.) Thành phần vốn đầu tư

1.5.4.) Nguyên tắc sử dụng các nguồn vốn đầu tư.

1.5.5.) Thanh toán hoàn trả vốn đầu tư

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG

 

1.1.) Khái niệm quá trình đầu tư và xây dựng :

Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.

Như vậy hoạt động đầu tư có có những đặc điểm chính sau đây:

– Trước hết phải có vốn. Vốn bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như  máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kĩ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụkĩ thuật, giá trị quyền sử dụng đất,mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác. Vốn có thể là vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần,vốn vay dài hạn,trung hạn,ngắn hạn.

– Một đặc điểm khác của đầu tư là thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm. Những hoạt động ngắn hạn, thường trong vòng một năm tài chính thì không được gọi là đầu tư. Thờihạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư, và còn gọi là đời sống của dự án.

Do dặc điểm thời gian dài nên người lập dự án cũng như người thẩm định dự án cần có tầm nhìn xa vài 30 năm, đồng thờiphải thấy rằng đầu tư là một  hoạt động dài hơi , có nhiều rủi ro,ngoài ra không thể bỏ qua quy luật thay đổi của gía trị đồng tiền theo thời gian dưới tác động của lãi suất nguồn vốn. Các tính toán đầu tư phải tính trên dòng tiền, bằng cách tính hiện giá của dòng tiền thu hồi và đầu tư.

– Lợi ích do dự án mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế ( biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội). Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọitắt là lợi ích kinh tế. Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội,của cộng đồng.

Dựa vào lợi ích tài chính, nhà đầu tư kể cả trường hợp Nhà đầu tư là Nhà Nước), có thể ra được quyết định có đầu tư hay không. Dựa vào lợi ích kinh tế xã hội, Nhà nước sẽ ra được quyết định có có cấp phép đầu tư cho các nhà đầu tư không phải là Nhà nước hay không.

1.2.) PHÂN LOẠI ĐẦU TƯ :

1.2.1.) THEO CHỨC NĂNG QUẢN TRỊ VỐN ĐẦU TƯ:

1.2.1.1.)  Đầu tư trực tiếp:

Đầu tư trực tiếp là đầu tư mà người bỏ vốn và người quản lý sử dụng vốn là một chủ thể. Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trong nước, theoluật khuyến khích đầu tư trong nước, hoặc đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

1.2.1.2.)  Đầu tư gián tiếp:

Dầu tư gián tiếp là đầu tư mà người bỏ vốn và người sử dụng vốn không phải là một chủ thể. Trường hợp đáng chú ý nhất là đầu tư gián tiếp bằng vốn nước ngoài. Đó là loại vốn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA), vốn của Nhà Nước vay nước ngoài với lãi suất ưu đãi. Những loại vốn này do Nhà Nước quản lý theo quy chế riêng.

 1.2.2.)THEO TÍNH CHẤT SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ:

 1.2.2.1.)   Đầu tư phát triển:     

Đầu tư phát triển là đầu tư trực tiếp nhằm tăng thêm giá trị tài sản, tạo ra năng lực mới hoặc cải tạo, mở rộng ,nâng cấp năng lực hiện có vì mục tiêu phát triển, có tác dụng quan trọng trong việc tái sản xuất mở rộng.

1.2.2.2.)  Đầu tư dịch chuyển:

Đầu tư dịch chuyển là đầu tư trực tiếp nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị tài sản. Lúc này không có sự gia tăng giá trị tài sản. Loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường hối đoái,… hỗ trợ cho đầu tư phát triển.

 1.2.3.) THEO NGÀNH ĐẦU TƯ:

– Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: là hoạt động đầu phát triển nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội.

+ Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điện, nước…..

+ Cơ sở hạ tầng xã hội: trường học, bệnh viện, nhà trẻ….

– Đầu tư phát triển công nghiệp: là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các công trình công nghiệp .

– Đầu tư phát triển nông nghiệp: là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các công trình nông nghiệp .

– Đầu tư phát triển dịch vụ: là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các công trình dịch vụ, thương mại, khách sạn, dịch vụ khác….

1.2.4.) THEO TÍNH CHẤT ĐẦU TƯ:

1.2.4.1.)  Đầu tư mới: là đầu tư để xây dựng mới các công trình, nhà máy thành lập mới các công ty, mở các cửa hàng mới, dịch vụ mới. Đặc điểm của đầu tư mới là không phải trên cơ sở những cái hiện có phát triển lên.

1.2.4.2.)  Đầu tư theo chiều sâu: đây là loại đầu tư nhằm khôi phục, cải tạo, nâng cấp, trang bị lại, đồng bộ hóa, hiện đại hóa, mở rộng các đối tượng hiện có.

1.2.5.)  THEO NGUỒN VỐN:

-Vốn trong nước: là vốn hình thành từ nguồn tích luỹ nội bộ của nền kinh tế quốc dân.

Các thành phần vốn trong nước:

+ Vốn ngân sách nhà nước.

+ Vốn tính dụng ưu đãi của nhà nước.

+ Vốn thuộc quỹ hồ trợ đầu tư quốc gia.

+ Vốn tính dụng thương mại.

+ Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước.

+ Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài.

+ Vốn do chính quyền cấp tỉnh và cấp huyện huy động sự đóng góp của tổ chức, cá nhân.

+ Vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế không thuộc doanh nghiệp nhà nước và vốn đầu tư của dân.

– Vốn ngoài nước:

+ Vốn thuộc các khoản vay nước ngoài của chính phủ và các nguồn viện trợ quốc tế dành cho phát triển (kể cả vốn ODA).

+ Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI).

+ Vốn đầu tư của các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và các cơ quan nước ngoài khác được phép xây dựng trên đất nước VN.

1.2.6.)  THEO CHỦ ĐẦU TƯ:

– Chủ đầu tư là nhà nước (đầu tư các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội).

– Chủ đầu tư là các doanh nghiệp (các doanh nghiệp nhà nước, ngoài nhà nước, liên doanh, độc lập …)

1.2.7 THEO PHẠM VI ĐẦU TƯ:

1.2.7.1. Đầu tư trong nước:

Đầu tư trong nước là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh tại Việt Nam của các tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài tại Việt Nam. Đầu tư trong nước chịu sự điều chỉnh của Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Luật này điều chỉnh loại đầu tư trực tiếp trong nước ta.

1.2.7.2. Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam:

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tạiViệt Nam, dưới nay gọi tắt là đầu tư nước ngoài, là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

1.2.7. 3.Đầu tư ra nước ngoài

Ở Việt Nam hiện nay còn ít trường hợp một tổ chức hoặc công dân Việt Nam đầu tư sang các nước khác nên cũng chưa có luật.

1.3.)  Mục đích và mục tiêu đầu tư.

1.3.1.) MỤC ĐÍCH:

Mục đích chủ yếu của đầu tư là sinh lợi. Khả năng sinh lợi là điều kiện cần thiết để đầu tư. Để tránh những cuộc đầu tư không sinh lợi, để đảm bảo khả năng sinh lợi tối đa một khi đã bỏ vốn đầu tư thì phải tiến hành một cách có hệ thống, có phương pháp theo một tiến trình gồm các bước sau:

– Nghiên cứu và đánh giá cơ hội đầu tư (báo cáo kinh tế – kỹ thuật về cơ hội đầu tư).

– Nghiên cứu tiền khả thi

–    Nghiên cứu khả thi.

–    Thẩm định và ra quyết định đầu tư.

–    Thiết kế.

–    Tổ chức đấu thầu, đàm phán, kí kết hợp đồng.

–    Xây dựng, lắp đặt, tuyển dụng, đào tạo lao động.

–    Nghiệm thu, bàn giao, thanh quyết toán.

Trong trường hợp dự án phức tạp thì giữa bước 2 và bước 3 người ta còn tiến hành khảo sát bổ sung một trong các trường hợp sau.

–    Khảo sát thị trường.

–    Khảo sát về nguyên vật liệu.

–    Khảo sát về địa điểm công trình.

–    Khảo sát về năng lực cuả các nhà thầu.

1.3.2.) MỤC TIÊU:

Mục tiêu là cơ sở thiết lập tiêu chuẩn hiệu quả, “cái chuẩn“ để ra quyết định lựa chọn phương án đầu tư. Việc phân tích, so sánh các phương án đầu tư được tiến hành thông qua một số chỉ tiêu nhất định. Nhìn chung có hai nhóm mục tiêu chính:

+  Nhóm mục tiêu kinh tế .

+  Nhóm các mục tiêu xã hội .

1.3.2.1.)  Các mục tiêu kinh tế: gồm các loại sau:

–  Lợi nhuận lớn nhất.

– Chi phí nhỏ nhất.

– Chiếm lĩnh thị trường hoặc đạt được lượng hàng hoá bán ra lớn nhất.

– Đạt được một mức độ lợi nhuận nhất định.

– Duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp tránh bị phá sản.

– Đạt được sự ổn định nội bộ …

Tại một thời điểm, một doanh nghiệp có thể có một số mục tiêu.                               Các mục tiêu lại có thể thay đổi theo thời gian.

1.3.2.2.)  Các mục tiêu xã hội.

Thuộc nhóm này có các mục tiêu nâng cao đời sống văn hoá – xã hội, lợi ích cộng đồng  v.v…

Tổ chức phát triển công nghiệp của liên hiệp quốc (UNIDO) đã đưa ra các mục tiêu khi phân tích các dự án cho các nước đang phát triển:

–          Nhu cầu tiêu dùng tổng hợp.

–          Phân phối thu nhập.

–          Tốc độ tăng cường thu nhập quốc dân.

–          Tạo việc làm.

–          Mức độ tự lực cánh sinh.

–          Những mong muốn chính đáng như phát triển giáo dục…..

1.2.3.3.)  Quan điểm của người đầu tư.

Mục tiêu đầu tư nó phụ thuộc vào quan điểm của người đầu tư, nghĩa là phụ thuộc vào cách nhìn nhận lợi ích của họ.

–  Tư nhân đầu tư trong nước hay ngoài nước, thì điều mà họ quan tâm nhất là lợi nhuận.

–  Nhà nước đầu tư thì mục tiêu đầu tư phải xuất phát từ lợi ích quốc gia hoặc của một ngành, một vùng lãnh thổ.

Trong mọi trường hợp, dù xuất phát từ quan điểm tư nhân đầu tư hay nhà nươc đầu tư cũng phải cân nhắc kỹ những tổn thất có thể xảy ra mà xã hội phải gánh chịu, nhất là môi trường sinh thái.

1.4.) NỘI DUNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG.

Từ quan điểm hệ thống mà xét thì quá trình đầu tư được coi là một hệ thống phức tạp có đầu vào và đầu ra:

–     Ở đầu vào, các nguồn tài nguyên, lao động, tài chính… được đưa vào hệ thống như  là những tiền đề vật chất của quá trình.

–     Các kết quả kinh tế-xã hội của sự vận động và phát triển của hệ thống biểu hiện dưới dạng công trình đã hoàn thành xuất hiện ở đầu ra sẽ tác động trực tiếp lên nền kinh tế quốc dân. Những kết quả này sẽ tham gia vào quá trình tái sản xuất và tạo nên những tiền đề vật chất mới cho chu trình sản xuất mới của quá trình đầu tư.

–     Nội dung bên trong của quá trình đầu tư diễn ra theo sự vận động khách quan của nó và tuân theo trình tự đầu tư và xây dựng do Nhà nước quy định.

Trình tự đầu tư và xây dựng được hiểu như là một cơ chế để tiến hành các hoạt động đầu tư và xây dựng, trong đó quy định rõ thứ tự nội dung các công việc cùng trách nhiệm và mối quan hệ giữa các bên hữu quan trong việc thực hiện các công việc đó.

Theo “Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” ban hành theo Nghị định số 52/1999 ngày 08/7/1999, mọi công tác đầu tư và xây dựng đều phải được tiến hành đúng trình tự theo ba giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng.

Quá trình đầu tư

Chuẩn bị đầu tư

Thực hiện đầu tư

–        Tài nguyên

–        Vật tư-thiết bị

–        Tài chính

–        Lao động

–        Tri thức

Đầu ra

Đầu vào

Kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng

Công trình hoàn thành và kết quả kinh tế-xã hội của việc đưa công trình vào khai thác.

     Các giai đoạn

 

 

 

 

 

 

 

1.4.1.) GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ:

Tất cả các công trình dự định đầu tư đều phải trải qua giai đoạn chuẩn bị đầu tư để chuẩn bị chu đáo các công tác sau đây:

–     Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư xây dựng công trình.

–     Tiếp xúc thăm dò thị trường trong nước hoặc ngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị tiêu thụ sản phẩm, khả năng có thể huy động các nguồn vốn để đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư.

–     Điều tra khảo sát, chọn địa điểm xây dựng.

–     Lập dự án đầu tư.

–     Gửi hồ sơ dự án và các văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết định đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án.

1.4.2.) GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐẦU TƯ:

Đây là giai đoạn giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện quá trình đầu tư nhằm vật chất hóa vốn đầu tư thành tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân.

Ở giai đoạn này trước hết cần làm tốt công tác chuẩn bị xây dựng. Chủ đầu tư có trách nhiệm:

–     Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước.

–     Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên.

–     Chuẩn bị mặt bằng xây dựng.

–     Mua sắm thiết bị và công nghệ.

–     Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượng công trình.

–     Thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán.

–     Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp công trình.

–     Ký kết hợp đồng với nhà thầu để thực hiện dự án.

Các tổ chức xây lắp có trách nhiệm:

–     Chuẩn bị các điều kiện cho thi công xây lắp. San lắp mặt bằng xây dựng điện, nước, công xưởng kho tàng, bến cảng, đường xá, lán trại và công trình tạm phục vụ thi công, chuẩn bị  vật liệu xây dựng v.v…

–     Chuẩn bị xây dựng những công trình liên quan trực tiếp.

Bước công việc tiếp theo của giai đoạn thực hiện đầu tư là tiến hành thi công xây lắp công trình theo đúng thiết kế, dự toán và tổng tiến độ được duyệt. Trong bước công việc này, các cơ quan, các bên đối tác có liên quan đến việc xây lắp công trình phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Cụ thể là:

–     Chủ đầu tư có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng.

–     Các nhà tư vấn có trách nhiệm giám định kỹ thuật và chất lượng công trình theo đúng chức năng và hợp đồng kinh tế đã ký kết.

–     Các nhà thầu phải thực hiện đúng tiến độ và chất lượng xây dựng công trình như đã ghi trong hợp đồng.

Yêu cầu quan trọng nhất đối với công tác thi công xây lắp là đưa công trình vào khai thác, sử dụng đồng bộ, hoàn chỉnh, đúng thời hạn quy định theo tổng tiến độ, đảm bảo chất lượng và hạ giá thành xây lắp.

1.4.3.) GIAI ĐOẠN KẾT THÚC XÂY DỰNG ĐƯA CÔNG TRÌNH VÀO KHAI THÁC SỬ DỤNG:

Nội dung công việc của giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng bao gồm: nghiệm thu, bàn giao công trình, thực hiện việc kết thúc xây dựng, vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình, bảo hành công trình, quyết toán vốn đầu tư, phê duyệt quyết toán.

Công trình chỉ được bàn giao toàn bộ cho người sử dụng khi đã xây lắp hoàn chỉnh theo thiết kế được duyệt và nghiệm thu đạt chất lượng. Hồ sơ bàn giao phải đầy đủ theo quy định và phải được nộp lưu trữ theo các quy định pháp luật về lưu trữ  Nhà nước.

Nghĩa vụ thực hiện hợp đồng xây dựng chỉ được chấm dứt hoàn toàn khi hết thời hạn bảo hành công trình.

Sau khi nhận bàn giao công trình, chủ đầu tư có trách nhiệm khai thác, sử dụng đầy đủ năng lực công trình, hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý nhằm phát huy đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật đã đề ra trong dự án.

1.4.4.) PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ XDCB :

1.4.4.1.)  Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư :

           Muốn nâng cao hiệu quả kinh tế của đầu tư xây dựng cơ bản cần phải xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của đầu tư xây dựng cơ bản. Anh hưởng đến đầu tư xây dựng cơ bản có thể là nhân tố chủ quan hay khách quan. Các nhân tố chủ quan là trình độ lập và thực hiện các phương án đầu tư kể từ khi xác định đường lối chiến lược đầu tư cho đến khâu sử dụng các công trình đã được xây dựng. Các nhân tố khách quan như tình hình tài nguyên, điều kiện khí hậu và dân số, trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật của đất nước, khả năng cung cấp vốn, các nhân tố kinh tế đối ngoại, các nhân tố phi kinh tế và ngẫu nhiên khác.

Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư có thể trực tiếp hay gián tiếp. Các nhân tố trực tiếp như giải pháp thiết kế công trình đã được đầu tư và xây dựng, mức giá cả để tính toán vốn đầu tư cơ bản và giá thành sản phẩm của công trình, trình độ sử dụng thực tế của công trình đã được xây dựng xong, cơ cấu đầu tư xây dựng cơ bản, năng suất lao động xã hội được biểu hiện thông qua giá cả để xác định vốn đầu tư xây dựng cơ bản và giá thành sản phẩm của công trình. Các nhân tố gián tiếp như cơ chế quản lý kinh tế tác động lên quá trình xây dựng và sử dụng công trình sau khi xây dựng xong, cơ chế đầu tư tác động lên quá trình đầu tư.

Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư có thể xét theo các giai đoạn đầu tư như: Chuẩn bị đầu tư, khảo sát thiết kế và tiến hành xây dựng các công trình. Sau đây là một số phương hướng nâng cao hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư xây dựng cơ bản xét theo các giai đoạn giải quyết vấn đề đầu tư xây dựng cơ bản.

1.4.4.2.)  Phương hướng nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản:

     a) Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:

Ở giai đoạn này việc xác định đường lối chiến lược đầu tư có một ý nghĩa quan trọng. Phải vận dụng sáng tạo lý luận Kinh tế chính trị học Mác-Lênin và các kinh nghiệm dầu tư của các nước một cách phù hợp với hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam đã xác định cơ sở chiến lược đầu tư xây dựng cơ bản. Những vấn đề này đã được thể hiện ở Nghị quyết của các đại hội Đảng toàn quốc trên cơ sở phân tích tình hình thực hiện bước đi của đầu tư cơ bản trong các thời kỳ tiếp theo.

Ở giai đoạn lập kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản phải đặc biệt chú ý giải quyết vấn đề cơ cấu đầu tư. Các phương hướng chung về cơ cấu đầu tư đã được Nghị quyết của Đại hội Đảng nêu lên, nhưng ở giai đoạn lập kế hoạch, bên cạnh vấn đề định hình định hướng ta phải giải quyết vấn đề định hình định hướng một cách cụ thể hơn. Ở giai đoạn lập kế hoạch phải tiến hành sắp xếp trình tự xây dựng các công trình một cách cụ thể và phải xác định mức độ ưu tiên cho từng lĩnh vực, các ngành mũi nhọn, cho các công trình trọng điểm thông qua tỷ lệ vốn đầu tư bỏ ra một cách hợp lý.

b.) Giai đoạn khảo sát thiết kế.

         Giai đoạn này có tầm quan trọng đặc biệt vì các công trình thiết kế sẽ là biểu hiện cụ thể của đường lối phát triển kinh tế và phát triển khoa học kỹ thuật của Đảng và Nhà nuớc.

Phương hướng nâng cao hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư là lựa chọn các giải pháp thiết kế về quy hoạch mặt bằng, về dây chuyền công nghệ, về giải pháp kiến trúc, kết cấu và tổ chức dây chuyền công nghệ xây dựng có tính kinh tế cao.

Phải nâng cao chất lượng thăm dò khảo sát bằng cách triệt để áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật lớn, nâng cao trình độ của cán bộ và cơ quan thiết kế. Việc nâng cao hiệu quả kinh tế vốn đầu tư trong giai đoạn thiết kế còn thể hiện trong việc tăng cường thiết kế mẫu, điển hình là việc hoàn thiện các định mức giá cả.

   c) Giai đoạn xây dựng:

Ở giai đoạn tiến hành xây dựng công trình phải áp dụng các biện pháp tổ chức và công nghệ xây dựng có tính kinh tế cao, tìm mọi biện pháp rút ngắn thời gian thi công. Ap dụng phân kỳ xây dựng một cách hợp lý, giảm bớt khối lượng thi công dở dang.

Nâng cao hiệu quả kinh tế trong giai đoạn xây dựng còn thể hiện việc tăng cường đảm bảo chất lượng công trình và việc phối hợp chặt chẽ giữa các khâu trong thi công.

1.5.) VỐN ĐẦU TƯ.

Theo định nghĩa về quá trình đầu tư và xây dựng như trên thì hoạt động đầu tư thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng các tài sản cố định gọi là đầu tư xây dựng cơ bản. Như vậy, xây dựng ở đây được coi như là một phương tiện để đạt được mục đích đầu tư. Quá trình đầu tư cơ bản là toàn bộ các hoạt động của chủ đầu tư từ khi bỏ vốn đến khi thu được kết quả thông qua việc tạo ra và đưa vào hoạt động các tài sản cố định. Quá trình đầu tư cơ bản là toàn bộ các hoạt động để chuyển vốn đầu tư dưới dạng tiền tệ sang tài sản phục vụ mục đích đầu tư. Mục đích của hoạt động xây dựng cơ bản là tạo ra được các tài sản có năng lực sản xuất hoặc phục vụ phù hợp với mục đích đầu tư. Kết quả của quá trình xây dựng cơ bản là các tài sản cố định được tạo ra dưới dạng vật chất cụ thể, còn kết quả đầu tư là những lợi ích thu được dưới dạng các hình thức khác nhau.

Như vậy, hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản tạo nên cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế quốc dân. Điều này càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những đất nước đang phát triển như Việt Nam ta. Con đường ngắn nhất để đưa đất nước nhanh chóng tiến lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá là kêu gọi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Muốn vậy, bên cạnh chính sách ưu đãi của nhà nước về pháp luật đòi hỏi cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước. Tuy nhiên, một thực trạng đáng buồn cho Việt Nam ta là: tiềm năng kêu gọi đầu tư của ta là rất lớn nhưng cơ sở hạ tầng còn quá yếu kém. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta chê bai hay chỉ trích bản thân chúng ta mà ta dám thẳng thắn nhìn nhận vấn đề để đưa ra hướng đi mới cho nền kinh tế của đất nước. Và thực tế thì trong những năm vừa qua đã có những chuyển biến tích cực trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở nhiều địa phương trong cả nước mà phải kể đến trước tiên là tỉnh Bình Dương. Kết quả đạt được trong những năm vừa qua đã cho thấy rằng con đường mà các nhà lãnh đạo địa phương này đã chọn là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại: tranh thủ các nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm kêu gọi đầu tư nước ngoài.

Để tìm hiểu kỹ hơn vấn đề này, trước hết ta cần hiểu vốn đầu tư xây dựng cơ bản là gì, có thể tranh thủ vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ những nguồn nào và quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB như thế nào cho có hiệu quả nhất?

 1.5.1) KHÁI NIỆM VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN.

Vốn đầu tư XDCB là toàn bộ chi phí để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm: chi phí cho khảo sát quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí về thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác ghi trong tổng dự toán.

1.5.2.) Ý NGHĨA VỐN ĐẦU TƯ.

Trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, vốn đầu tư xây dựng cơ bản có tác dụng to lớn, nó là tiền đề vật chất của việc xây dựng, nó tạo ra tài sản cố định mới cho nền kinh tế quốc dân, tạo ra sự thay đổi về cơ bản làm tăng năng lực sản xuất của nhiều ngành sản xuất tạo điều kiện nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất. Đầu tư XDCB góp phần cân đối lại đối tượng lao động xã hội, phân bố hợp lý sức sản xuất. Ngoài ra, quy mô và tốc độ đầu tư cơ bản còn phản ánh quy mô, tốc độ phát triển của nền kinh tế quốc dân.

  1.5.3.) THÀNH PHẦN VỐN ĐẦU TƯ.

Để tiến hành hoạt động đầu tư cần phải bỏ vốn. Để số vốn bỏ ra mang lại hiệu quả kinh tế cao trong tương lai khá xa đòi hỏi phải chuẩn bị cẩn thận về mọi mặt: tiền vốn vật tư, lao động, phải xem xét khía cạnh về tự nhiên, kinh tế, xã hội, kỹ thuật, pháp luật có liên quan đến quá trình thực hiện và phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư. Sự chuẩn bị này, quá trình xem này đòi hỏi phải chi tiêu. Mọi chi tiêu cho quá trình đầu tư phải được tính vào chi phí đầu tư.

Vốn đầu tư để thực hiện một dự án đầu tư hay tổng mức đầu tư là toàn bộ số vốn đầu tư dự kiến để chi phí cho toàn bộ quá trình đầu tư  nhằm đạt được mục tiêu đầu tư để đưa vào khai thác và sử dụng theo yêu cầu của dự án.

Vốn đầu tư có hai thành phần chính.

– Vốn cố định: được dùng để xây dựng công trình, mua sắm thiết bị.

– Vốn lưu động: được dùng cho quá trình khai thác và sử dụng các tài sản cố định của dự án đầu tư  trong quá trình sản xuất kinh doanh sau này.

Ngoài ra còn chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí dự phòng.

Tổng dự toán công trình là phần vốn đầu tư cần thiết cho việc xây dựng của các dự án đầu tư có kèm theo nhu cầu về xây dựng công trình. Tổng dự toán được tính toán cụ thể trong giai đoạn thiết kế kỹ thuật. Tổng dự toán bao gồm ba loại chi phí sau:

+ Chi phí mua sắm lắp đặt thiết bị công trình.

+ Chi phí cho việc xây dựng và lắp đặt máy móc thiết bị vào công trình.

+ Các chi phí khác bao gồm: chi phí cho việc khảo sát, thiết kế, cho sử dụng đất đai đền bù giải phóng mặt bằng, cho việc xây dựng khu phu trợ nhà làm việc, láng trại đối với các công trình có qui mô lớn, cho các chi phí khác kể cả chi phí dự phòng.

  1.5.4.) NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ.

Hoạt động đầu tư là một lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế nhằm tạo ra và duy trì sự hoạt động của cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Quá trình sử dụng vốn đầu tư xét về mặt bản chất chính là quá trình thực hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật để tạo nên những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Số vốn bằng tiền đó được tạo ra từ những nguồn gốc khác nhau vì vậy phải được phân cấp quản lý sử dụng. Nguyên tắc quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư được quy định cụ thể như sau:

1.5.4.1.) Quản lý vốn đối với các dự án quy hoạch:

–     Bộ kế hoạch và đầu tư: là cơ quan quản lý các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng, liên tỉnh trong phạm vi toàn quốc.

–     Bộ xây dựng quản lý Nhà nước về quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn, quy hoạch xây dựng vùng trọng điểm.

–     Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch xây dựng đô thị và vùng nông thôn thuộc địa phương theo phân cấp của Chính phủ.

–     Các Bộ, Ngành Trung ương quản lý các dự án quy hoạch tổng thể phát triển ngành theo quy định của Chính phủ.

–     Các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển chuyên ngành và quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi nghiên cứu xây dựng phải lấy ý kiến rộng rãi của các Bộ, Ngành, địa phương liên quan. Quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi nghiên cứu lập dự án phải công bố công khai và trưng cầu ý kiến của nhân dân và Hội đồng nhân dân sống trên vùng quy hoạch. Dự án quy hoạch xây dựng (cả quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết) đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải được công bố công khai, thường xuyên tại cơ quan chính quyền các cấp và nơi công cộng trong vùng quy hoạch để nhân dân thực hiện.

–     Vốn để lập các dự án quy hoạch bao gồm: vốn điều tra, khảo sát, nghiên cứu, lập dự án quy hoạch.

–     Vốn để lập các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị và nông thôn, quy hoạch chi tiết các đô thị trung tâm, quy hoạch chi tiết sử dụng đất đai được sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước và được cân đối trong kế hoạch đầu tư hàng năm của Nhà nước.

–     Vốn để lập các dự án quy hoạch xây dựng chi tiết các khu chức năng đô thị và nông thôn, quy hoạch chi tiết khu công nghiệp và quy hoạch chi tiết xây dựng các khu đô thị mới, quy hoạch chi tiết chuyên ngành (du lịch, thể thao, dịch vụ…) được sử dụng vốn huy động từ các dự án đầu tư và được tính vào giá thành thực hiện các dự án đầu tư.

–     Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính có trách nhiệm quản lý và cân đối vốn hàng năm cho công tác điều tra, khảo sát, lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch đô thị và nông thôn, hướng dẫn các Bộ và các địa phương tổ chức thực hiện.

–     Kế hoạch vốn hàng năm cho công tác lập quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn do địa phương lập kế hoạch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thống nhất với Bộ Tài chính và Bộ Xây dựng để trình Thủ tướng chính phủ phê duyệt. Việc quản lý sử dụng nguồn vốn này được phân cấp quản lý theo pháp luật về ngân sách Nhà nước.

1.5.4.2.) Quản lý các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước:         

 °Các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước bao gồm:

–     Các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh không có khả năng thu hồi vốn và được quản lý sử dụng theo phân cấp về chi  ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển.

–     Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật.

–     Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi được Thủ tướng chính phủ cho phép.

–     Cho vay của chính phủ để đầu tư phát triển

–     Vốn khấu hao cơ bản và các khoản phụ thu của Nhà nước để lại cho doanh nghiệp Nhà nước để đầu tư.

°Thẩm quyền quyết định đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước:

–     Thủ tướng chính phủ quyết định đầu tư hoặc ủy quyền quyết định đầu tư các dự án thuộc nhóm A

–     Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ, cơ quan quản lý tài chính của Trung ương Đảng, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị-xã hội, chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đầu tư các dự án nhóm B và C.

–     Đối với dự án nhóm B, C, cơ quan quyết định đầu tư phải căn cứ theo quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và kế hoạch vốn ngân sách đã được duyệt để quyết định đầu tư và chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư.

Riêng đối với các dự án nhóm C, cơ quan quyết định đầu tư phải đảm bảo cân đối vốn đầu tư để thực hiện dự án không quá 2 năm.

Tổng cục Trưởng các tổng cục trực thuộc Bộ có thể được Bộ trưởng ủy quyền quyết định đầu tư các dự án nhóm C.

–     Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được ủy quyền cho giám đốc Sở kế hoạch và đầu tư quyết định đầu tư các dự án có mức vốn dưới 2 tỷ đồng. Các tỉnh và thành phố còn lại, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thể Uỷ quyền cho giám đốc Sở kế hoạch và đầu tư quyết định đầu tư  các dự án có mức vốn dưới 500 triệu đồng.

–     Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã được quyết định đầu tư các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp.

–     Đối với các dự án đầu tư ở cấp huyện dùng vốn ngân sách Nhà nước phải được Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh chấp thuận và quản lý chặt chẽ về quy hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.

–     Đối với các dự án ở cấp xã dùng nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư và xây dựng kênh mương, đường nông thôn, trường học, trạm xá, công trình văn hóa sau khi được Hội đồng nhân dân cấp xã thông qua phải được Ủy ban nhân dân cấp huyện chấp thuận về mục tiêu đầu tư và quy hoạch.

–     Các dự án kênh mương, chuồn trại, đường nông thôn, trường học cấp xã đầu tư từ nguồn đóng góp của dân, Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đầu tư và xây dựng theo Quy chế chế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng của các xã, thị trấn, ban hành theo Nghị định số 24/1999/NĐ-CP ngày 16-4-1999 của chính phủ.

–     Người có thẩm quyền quyết định đầu tư không được sử dụng nguồn vốn sự nghiệp để đầu tư xây dựng mới. Đối với việc cải tạo mở rộng, nếu sử dụng nguồn vốn sự nghiệp có mức từ 1 tỷ đồng trở lên để đầu tư phải thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư theo quy định của Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng.

1.5.4.3.) Quản lý các dự án đầu tư sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước:

–     Chủ đầu tư các dự án thuộc doanh nghiệp nhà nước sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư và trả nợ vốn vay đúng hạn, tổ chức cho vay chịu trách nhiệm thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ và cung ứng vốn, giám sát thực hiện vốn vay đúng mục đích và thu hồi vốn vay. Đối với dự án sử dụng vốn vay nước ngoài do Nhà nước bảo lãnh và vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được phân cấp theo quy định của quy chế quản lý đầu tư và xây dựng.

1.5.4. 4.) Quản lý các dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước:

°Thẩm quyền quyết định đầu tư và thực hiện đầu tư được quy định như sau:

–     Đối với các dự án nhóm A: thẩm quyền quyết định đầu tư và thực hiện đầu tư được áp dụng theo quy định đối với dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước.

–     Đối với dự án nhóm B, C: doanh nghiệp Nhà nước căn cứ vào quy hoạch phát triển ngành đã xác định để quyết định đầu tư, quá trình thực hiện đầu tư do doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm trên cơ sở thực hiện đúng các chế độ chính sách hiện hành của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng về định mức, đơn giá và quy chế đấu thầu. Tổ chức quản lý vốn của doanh nghiệp và các tổ chức hổ trợ vốn cho dự án có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện quyết định đầu tư và thực hiện quyết toán vốn đầu tư.

1.5.4.5.) Quản lý dự án đầu tư sử dụng các nguồn vốn khác:

–     Các dự án sản xuất kinh doanh của tư nhân, tổ chức kinh tế không phụ thuộc doanh nghiệp Nhà nước, chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh. Việc kinh doanh phải theo quy định của pháp luật. Nếu dự án có xây dựng, chủ đầu tư phải lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền để cấp giấy phép xây dựng.

1.5.5.) THANH TOÁN VÀ HOÀN TRẢ VỐN ĐẦU TƯ.

1.5.5.1.) Thanh toán vốn đầu tư xây dựng công trình.

– Việc thanh toán vốn đầu tư cho các công việc, hoặc nhóm công việc hoặc toàn bộ công việc lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, giám sát và các hoạt động xây dựng khác phải căn cứ theo giá trị khối lượng thực tế  hoàn thành và nội dung phương thức trong hợp đồng đã ký kết.

–  Những dự án đầu tư xây dựng có sử dụng vốn nước ngoài hoặc gói thầu tổ chức đấu thầu quốc tế mà trong Hiệp định tín dụng ký với Chính phủ Việt Nam có quy định về tạm ứng, thanh toán vốn thì thực hiện theo hiệp định đã ký.

–  Đối với những dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, trong năm kết thúc xây dựng hoặc năm đưa công trình vào khai thác sử dụng thì chủ đầu tư phải thanh toán toàn bộ cho nhà thầu giá trị hoàn thành trừ khoản tiền giữ lại theo quy định để bảo hành công trình.

–  Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhà thầu nộp hồ sơ thanh toán hợp lệ theo quy định, chủ đầu tư phải thanh toán giá trị khối lượng công việc thực hiện cho nhà thầu. Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ đề nghị thanh toán hợp lệ của nhà thầu, chủ đầu tư phải hoàn thành đủ thủ tục và chuyển đề nghị giải ngân đến cơ quan cấp phát, cho vay vốn. Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan cấp phát, cho vay vốn có trách nhiệm thanh toán.

Cơ quan cấp phát, cho vay vốn phải chiệu trách nhiệm bồi thường thiệt hại việc thanh toán chậm do lỗi của mình gây ra.

– Trong quá trình thực hiện dự án, nếu chủ đầu tư chậm thanh toán khối lượng công việc đã hoàn thành thì phải trả khoản lãi theo lãi suất ngân hàng do các bên thỏa thuận ghi trong hợp đồng cho nhà thầu đối với các khối lượng chậm thanh toán.

–  Bộ Tài Chính hướng dẫn chi tiết việc tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư xây dựng công trình các dự án sử ụng vốn ngân sách nhà nước

– Trong năm kết thúc dự án chỉ được cấp phát hoặc cho vay tối đa là 95% giá trị khối lượng năm kế hoạch. Số 5% còn lại chủ đầu tư thanh toán ngay sau khi có báo cáo quyết toán được duyệt.

1.5.5.2.) Hoàn trả vốn đầu tư.

          Đối với các dự án đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước tín dụng ưu đãi, tín dụng ngân hàng, vốn đầu tư của các doang nghiệp mà chủ đầu tư có trách nhiệm hoàn trả vốn hoặc trả nợ vay, thì nguồn vốn để thu hồi và trả nợ vay bao gồm toàn bộ khấu hao cơ bản, 1 phần lợi nhuận và các nguồn vốn khác. Trường hợp không thu hồi được vối và hoàn trả hết nợ vay thì chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm theo pháp luật hiện hành.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hướng dẫn đồ án Lập và phân tích dự án đầu tư

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Phân tích nhiệm vụ, so sánh và đánh giá lựa chọn giải pháp
6. Kết cấu và nội dung chủ yếu của đồ án
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1. Các kiến thức cơ sở về phương pháp lập và đánh giá các dự án đầu tư
(phần này ngoài lý thuyết kinh điển, cần lồng ghép, cập nhật các quy định, hướng dẫn của Nhà nước về lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình, nhất là lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình)
1.1. Những vấn đề mở đầu có liên quan đến đầu tư
1.1.1. Khái niệm chung về đầu tư
1.1.2. Khái niệm về đầu tư xây dựng
1.1.3. Quá trình đầu tư của một dự án đầu tư
1.1.3.1. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
1.1.3.2. Giai đoạn thực hiện đầu tư
1.1.3.3. Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử dụng
1.1.4. Dự án đầu tư và các giai đoạn lập dự án đầu tư
1.1.4.1. Khái niệm về dự án đầu tư
1.1.4.2. Các giai đoạn lập dự án đầu tư
1.1.5. Khái niệm và phân loại hiệu quả của dự án đầu tư
1.1.5.1. Khái niệm
1.1.5.2. Phân loại
1.1.6. Quan điểm đánh giá đầu tư
1.2. Phương pháp phân tích, đánh giá các dự án đầu tư về mặt tài chính và kinh tế – xã hội
1.2.1. Các phương pháp phân tích tài chính, kinh tế của dự án đầu tư
1.2.2. Nội dung cơ bản của phân tích tài chính, kinh tế dự án đầu tư
1.2.2.1. Tính toán các chỉ tiêu và số liệu xuất phát
1.2.2.2. Phân tích dự án
1.2.3. Phương pháp đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư
1.2.3.1. Nhóm các chỉ tiêu tĩnh
1.2.3.2. Nhóm các chỉ tiêu động
1.2.4. Phương pháp đánh giá độ an toàn về tài chính dự án đầu tư
1.2.4.1. Xác định điểm hoà vốn của dự án
1.2.4.2. Khả năng trả nợ của dự án
1.2.4.3. Độ nhạy của dự án
1.2.5. Đánh giá DAĐT về mặt kinh tế – xã hội
PHẦN II. THỰC HIỆN LẬP, PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỤ THỂ (củng cố phần cơ sở lý luận và phương pháp luận)
1. Những nét cơ bản về dự án đầu tư xây dựng công trình lựa chọn trong đồ án
1.1. Giới thiệu khái quát về dự án
1.2. Các vấn đề khác của dự án
2. Xác định các dữ liệu ban đầu
3. Tính toán các chỉ tiêu và số liệu xuất phát
3.1. Tính toán, dự kiến vốn đầu tư của dự án
3.1.1. Dự trù vốn xây dựng các công trình, hạng mục công trình
3.1.2. Dự trù vốn thiết bị cho dự án
3.1.3. Dự trù chi phí lắp đặt thiết bị
3.1.4. Dự trù chi phí khác trong vốn đầu tư
3.1.5. Dự trù vốn lưu động cho dự án
3.1.6. Nguồn vốn, kế hoạch huy động vốn và trả lãi vay trong thời kỳ xây dựng
3.1.6.1. Nguồn vốn
3.1.6.2. Kế hoạch huy động vốn của dự án
3.1.6.3. Dự trù trả lãi vay trong thời kỳ xây dựng
3.2. Tính toán, dự kiến chi phí SXKD của dự án trong các năm vận hành
3.2.1. Chi phí nguyên vật liệu, năng lượng, sử dụng điện, nước
3.2.2. Chi phí trả lương và các khoản trích theo lương
3.2.3. Chi phí sửa chữa, bảo dưỡng và chi phí trả tiền thuê đất
3.2.4. Chi phí quản lý khác
3.2.5. Chi phí trả lãi tín dụng trong vận hành
3.2.6. Tổng hợp chi phí sản xuất kinh doanh trong các năm vận hành
3.3. Dự kiến phương án doanh thu của dự án
4. Phân tích, đánh giá dự án
4.1. Phân tích lãi, lỗ trong sản xuất kinh doanh
4.2. Phân tích hiệu quả tài chính của dự án đầu tư
4.2.1. Đánh giá hiệu quả tài chính thông qua chỉ tiêu NPV, IRR và BCR
4.2.2. Đánh giá hiệu quả tài chính thông qua thời gian thu hồi vốn có tính đến hệ số chiết khấu (thời hạn hoàn vốn tính theo phương pháp động)
4.2.3. Đánh giá hiệu quả của dự án theo chỉ tiêu thời gian hoàn vốn nhờ lợi nhuận và khấu hao (không xét đến giá trị theo thời gian của tiền)
4.3. Phân tích độ an toàn về tài chính
4.3.1. Phân tích an toàn theo khả năng trả nợ
4.3.1.1. Phân tích an toàn theo hệ số khả năng trả nợ
4.3.1.2. Phân tích an toàn theo thời hạn có khả năng trả nợ
4.3.2. Phân tích độ an toàn về tài chính theo phân tích hoà vốn
4.3.3. Phân tích độ nhạy của dự án về mặt tài chính
4.4. Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội của DAĐT
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC”

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Vàng rẻ đi 3,6 triệu đồng/lượng trong tháng 9

picture Diễn biến giá vàng SJC trong 30 phiên gần nhất, tính đến 12h hôm nay, 1/10/2011 (đơn vị: nghìn đồng/lượng) – Ảnh: SJC.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Cuối tuần này, giá vàng trong nước ổn định ở mức 44,3 triệu đồng/lượng do giá vàng quốc tế ít biến động. Tuy nhiên, tháng 9 này đã chứng kiến nhưng pha “lao dốc không phanh” của cả giá vàng trong nước và thế giới.Sáng cuối tuần hôm nay (1/10), Công ty SJC niêm yết giá vàng SJC tại thị trường Tp.HCM ở mức 44,05 triệu đồng/lượng (mua vào) và 44,25 triệu đồng/lượng (bán ra). Tại Hà Nội, vàng SJC được Công ty Phú Quý giao dịch ở các mức giá tương ứng lần lượt là 44,05 triệu đồng/lượng và 44,4 triệu đồng/lượng.

So với cuối giờ chiều qua, giá vàng miếng đã được SJC nâng thêm 50.000 đồng/lượng. Trong vòng 2 ngày trở lại đây, giá vàng trong nước tương đối ổn định trong vùng 44,2-44,4 triệu đồng/lượng.

Giá vàng trong nước vẫn bám khá sát các diễn biến tăng-giảm của giá vàng quốc tế, nhưng tiếp tục giữ mức chênh cao so với giá vàng quốc tế quy đổi. Ngân hàng Nhà nước cách đây ít ngày tuyên bố cho nhập khẩu vàng đợt thứ tư kể từ tháng 8 để bình ổn thị trường.

Theo nguồn tin của VnEconomy, Ngân hàng Nhà nước đang cân nhắc những biện pháp mới để tăng cường quản lý thị trường vàng, bao gồm việc nối lại hình thức kinh doanh vàng tài khoản ở nước ngoài để giúp các doanh nghiệp và ngân hàng có thể dễ dàng cân đối cung cầu.

Trong phiên giao dịch cuối cùng của tháng 9 tại New York vào đêm qua, giá vàng giao ngay tăng 8,9 USD/oz khi đóng cửa, lên 1.625,8 USD/oz. Mức giá này quy đổi theo giá USD ngân hàng thương mại tương đương khoảng 40,8 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng bán lẻ trong nước khoảng 3,5 triệu đồng/lượng.

Giá vàng hiện giảm 1,3 triệu đồng/lượng so với cuối tuần trước, nâng tổng mức giảm trong nửa tháng trở lại đây lên 3 triệu đồng/lượng. Trong tháng 9, vàng trong nước đã giảm giá 3,6 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, trong quý 3, giá vàng đã tăng xấp xỉ 6,6 triệu đồng/lượng nhờ được hỗ trợ bởi lực tăng của giá vàng quốc tế.

Giá USD tự do suốt tuần này dao động dưới mức 21.300 đồng và đã có ngày chạm mốc giá này. Sáng nay, thị trường ngoại tệ tự do tại Hà Nội báo giá USD phổ biến ở mức 21.230 đồng (mua vào) và 21.280 đồng (bán ra).

Sau khi giảm 9% trong tuần trước, giá vàng tuần này giảm thêm gần 2%. Reuters cho biết, trong quý 3, giá vàng quốc tế tăng 8%, đánh dấu quý tăng mạnh nhất từ đầu năm, bất chấp mức giảm 11% trong tháng 9.

Tháng 9 cũng là tháng đã ghi nhận những kỷ lục mới của cả giá vàng trong nước và thế giới. Trong đó, giá vàng thế giới vượt 1.920 USD/oz, giá vàng trong nước chạm 49 triệu đồng/lượng.

Sau một thời gian dài được gom mua với tư cách “vịnh tránh bão” số 1, trong tháng 9 này, vàng lại bị giới đầu tư toàn cầu bán tháo do những lo ngại liên quan đến cuộc khủng hoảng nợ châu Âu và nền kinh tế Mỹ.

Áp lực giảm giá vàng càng mạnh khi đồng USD thay thế vàng trở thành tài sản an toàn quan trọng nhất trong danh mục của các quỹ lớn. Ngoài ra, vàng còn giảm giá do sàn giao dịch hàng hóa COMEX của Mỹ nâng biểu phí ký quỹ vàng lần thứ 4 trong năm nay.

Trong suốt nửa cuối của tháng 9, thị trường vàng thế giới chứng kiến sóng gió lớn, với biên độ dao động của giá vàng lên tới 400 USD/oz.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Vàng được dự báo lên đến 2.000 USD/ounce tuần tới

Giá vàng đã tăng hơn 6% trong tuần này, ngược với dự báo giảm của giới phân tích.

Phiên giao dịch hôm qua (19/8), giá vàng giao sau tiếp tục xác lập mức cao kỷ lục mới, khi nhà đầu tư bất an về triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu và đổ xô mua vàng tích trữ để “tránh bão”.

Giá vàng giao tháng 12 tăng 30,20 USD, tương ứng 1,7%, lên 1.852,20 USD/ounce trên sàn Comex ở New York. Mức giá cao nhất đạt được trong ngày của vàng loại này là 1.881,40 USD/ounce, mức giao dịch trong ngày cao nhất từ trước tới nay.

Matt Zeman, chiến lược gia thuộc hãng tài chính Kingsview ở Chicago, nhận định rằng, tuần tới giá vàng có thể có những lúc chạm đỉnh cao 2.000 USD/ounce và điều này sẽ trở nên chắc chắn hơn trong những tuần kế tiếp.

Theo chuyên gia này, đà tăng mạnh của giá vàng xuất phát từ những nỗi lo sợ. Sau đó, đà tăng sẽ kết thúc với một đợt bán tháo, khiến giá vàng giảm từ 100 – 200 USD từ mức hiện tại, Zeman nhận định. “Thị trường bắt đầu có bong bóng”, ông nói thêm.

Tính cả tuần giao dịch này, giá vàng đã tăng thêm 6,4%. Như vậy, vàng đã tăng được 14% kể từ đầu tháng 8 tới nay, do hàng loạt yếu tố bất ổn về kinh tế Mỹ, châu Âu khiến các thị trường hàng hóa rủi ro khác như chứng khoán, dầu thô chao đảo và đẩy nhà đầu tư đến với vàng.

Phiên hôm qua (19/8), cùng với vàng, giá kim loại bạc cũng tăng khá mạnh. Bạc hợp đồng thág 9 tăng 1,74 USD, tương ứng 4,3%, lên 42,43 USD/ounce, mức chốt cao nhất kể từ ngày 3/5 tới nay. Tính cả tuần, kim loại bạc đã tăng giá 8,5%.

Bạch kim giao tháng 10 tăng 27,20 USD, tương ứng 1,5%, lên 1.874,90 USD/ounce, đưa mức tăng cả tuần lên 4,3%. Ngược lại, giá palladium hợp đồng tháng 9 hạ 8,2 USD, tương ứng 1,1%, xuống 748,80 USD/ounce. Nhưng tính cả tuần, palladium vẫn tăng giá 0,1%.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?